đặt vấn đề cần thiết xác lập cơ chế quản lý tài chính phù hợp với mô hình tổng công ty. Phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính của loại hình tổng công ty nhà nƣớc, tác giả cho rằng mô hình quản lý tài chính hiện tại còn chƣa gắn kết với những chỉ tiêu định lƣợng cụ thể. Các quyết định quản lý tài chính phần lớn dựa trên kinh nghiệm thực tiễn hơn là dựa trên những cơ sở, những thƣớc đo khoa học về quản trị doanh nghiệp. Luận văncũng đề cập đến nội dung quản lý vốn trong quản lý tài chính.
Theo tác giả, mục tiêu của quản lý sử dụng vốn là không ngừng mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn của tổng công ty- một tiền đề cơ bản để tồn tại và phát triển trong môi trƣờng cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Luận văn thạc sỹ của Lê Thị Thanh, Đại học kinh tế (2015): “Nguyên tắc và phương pháp quản lý vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động kinh doanh” 6 z Luận vănđƣa ra các phƣơng pháp đánh giá hiệu quả quản lý sử dụng vốn. Theo tác giả, đối với các doanh nghiệp, có thể sử dụng phƣơng pháp phân tích từng chỉ tiêu và xu hƣớng tăng giảm của các chỉ tiêu đó. Dựa vào ý nghĩa của từng chỉ tiêu mà có thể đánh giá đƣợc năng lực quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, những vấn đề về phƣơng pháp đánh giá mới dừng lại ở việc nêu lý thuyết chung mà chƣa đƣa ra cách thức áp dụng, biện pháp áp dụng cụ thể. Bản thân phƣơng pháp đánh giá mới chỉ là một bộ phận của quá trình đánh giá hiệu quả quản lý sử dụng vốn. Những kết quả chủ yếu và khoảng trống trong nghiên cứu 1. Những kết quả chủ yếu Các nghiên cứu về quản lý vốn ở góc độ lý thuyết cũng nhƣ thực tiễn tại các loại hình doanh nghiệp, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, là những gợi mở quan trọng cho hƣớng nghiên cứu về quản lý sử dụng vốn của tác giả.
Thứ nhất, khái niệm quản lý vốn đã đƣợc nhiều tác giả đi sâu phân tích. Mặc dù có những điểm chƣa gặp nhau trong quan niệm về bản chất của quản lý vốn, nội dung, phƣơng pháp quản lý vốn nhƣng kết quả của những nghiên cứu đi trƣớc này có thể giúp làm rõ hơn nội dung quản lý sử dụng vốn của các công ty xây dựng. Mặt khác, các nội dung, các cơ chế quản lý của các tổng công ty, các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác giúp tạo ra góc nhìn so sánh về quản lý vốn, tìm ra đƣợc những vấn đề trọng tâm cần lƣu ý trong đánh giá, phân tích vấn đề quản lý sử dụng vốn của các công ty xây dựng. Thứ hai, nhiều nghiên cứu đã xây dựng đƣợc hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý sử dụng vốn.
Các tiêu chí này là thƣớc đo quan trọng để vận dụng vào việc đánh giá quản lý sử dụng vốn của các công ty xây dựng. Thứ ba, nhiều tác giả đã đi sâu phân tích thực trạng quản lý vốn ở một số tổng công ty trên nhiều phƣơng diện về cơ chế, chính sách, pháp luật quản lý. Từ các đánh giá này, tác giả củng cố thêm cơ sở thực tiễn để đánh giá về quản lý sử dụng vốn trong công ty xây dựng. 7 z Thứ tư, các giải pháp trong các nghiên cứu về vốn của doanh nghiệp của một số tác giả đã cung cấp thêm luận cứ khoa học cho tác giả trong việc đƣa ra các phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện quản lý sử dụng vốn trong công ty xây dựng.
Khoảng trống trong nghiên cứu Thứ nhất, Đa số các công trình nghiên cứu vấn đề vốn trong Doanh nghiệp từ góc độ của khoa học quản trị kinh doanh.Hầu nhƣ chƣa có công trình nào nghiên cứu vấn đề quản lý sử dụng vốn trong doanh nghiệp với cách tiếp cận đầy đủ từ chuyên nghành quản lý kinh tế, đặc biệt là các nghiên cứu nói trên chƣa quan tâm tới vấn đề kiểm tra, giám sát sử dụng vốn với tính cách là một nội dung của quản lý sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Thứ hai, cho tới nay chƣa có công trình nào nghiên cứu về quản lý sử dụng vốn tại Công ty TNHH MTV Duyên Hải - Bộ Quốc Phòng. Do đó, đề tài: “Quản lý sử dụng vốn tại công ty TNHH MTV Duyên Hải - Bộ Quốc Phòng” có chỗ đứng riêng, kế thừa nhƣng không trùng lặp với các công trình khoa học đã đƣợc công bố trƣớc đó. Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng vốn trong doanh nghiệp 1.
Tổng quan về vốn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bất cứ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có vốn. Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để dự trữ vật tƣ, mua sắm máy móc thiết bị, chi phí cho quá trình sản xuất kinh doanh và đƣợc thể hiện ở nhiều hình thái khác nhau trong quá trình luân chuyển. Trong lý luận và thực tiễn có nhiều quan niệm khác nhau về vốn, mỗi quan điểm nhìn nhận vốn dƣới một góc độ nhất định.
Theo lý thuyết kinh tế cổ điển và tân cổ điển: vốn là một trong các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh (đất đai, tài nguyên, lao động, vốn). Theo Paul Samuelson và William D. Nordhaus: “Vốn kinh doanh là khái niệm thƣờng dùng để chỉ các hàng hoá là vốn kinh doanh nói chung, một nhân tố sản 8 z xuất. Một hàng hoá làm vốn kinh doanh, khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ở chỗ: Nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho hàng), vốn tài chính (tiền, chứng khoán, tín phiếu)”.
Quan điểm này đã cho chúng ta thấy rõ nguồn gốc hình thành vốn, trạng thái biểu hiện của vốn và đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn là chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của sản xuất nhƣng hạn chế cơ bản của quan điểm này là chƣa cho thấy mục đích sử dụng của vốn kinh doanh. David Begg, tác giả cuốn “Kinh tế học” thì cho rằng: “Vốn kinh doanh là các yếu tố của sản xuất và bao gồm hai loại vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn tồn tại ở các hình thái hiện vật của các tài sản cố định, hàng hoá tồn kho, mặt bằng sản xuất kinh doanh,… và vốn tài chính tồn tại ở các hình thái giá trị nhƣ tiền và các giấy tờ có giá thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp”. Theo ý nghĩa kinh tế, có quan điểm lại cho rằng: “Vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế đƣợc bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ nhƣ tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đƣợc tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của cán bộ điều hành cùng chất lƣợng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, các lợi thế cạnh tranh nhƣ vị trí, uy tín”.
Từ các quan điểm trên, có thể hiểu: “Vốn của doanh nghiệp là một yếu tố của sản xuất, bao gồm tất cả tài sản, tồn tại dưới hình thái tiền tệ và hiện vật mà doanh nghiệp đang sử dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh”. Phân tích các quan niệm trên có thể rút ra những đặc trƣng cơ bản của vốn nhƣ sau: Thứ nhất: Vốn là một hàng hoá đặc biệt và đƣợc lƣu thông trên thị trƣờng. Giá cả của vốn hay chi phí sử dụng vốn là lãi suất hay mức doanh lợi kỳ vọng trên thị trƣờng. Thứ hai: Vốn đƣợc biểu hiện bằng tiền nhƣng không phải mọi nguồn tiền đều là vốn.
Tiền tiêu dùng hàng ngày, tiền cất trữ không phải là vốn. Tiền chỉ trở thành vốn khi nó đại diện cho một lƣợng hàng hoá nhất định và đƣợc đƣa vào quá trình sản xuất kinh doanh để sinh lời. Bản thân tiền cũng chỉ biến thành vốn khi nó đƣợc tích tụ và tập trung đến một mức độ đủ lớn để có thể bỏ vào kinh doanh. 9 z Thứ ba: Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn ngày hôm nay khác một đồng vốn ngày mai do sự biến động của giá cả và lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau.
Từ các đặc trƣng trên có thể coi vốn là tiền đề của mọi quá trình đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Phân loại vốn Vốn của doanh nghiệp có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. a) Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển của vốn thì vốn của doanh nghiệp bao gồm hai loại là vốn cố định và vốn lƣu động. Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ), TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhƣng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lƣu động. Vốn lƣu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá. Nó là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lƣơng. Những giá trị này đƣợc hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hoá.
Trong quá trình sản xuất, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dƣới hình thức tiền lƣơng đã bị ngƣời lao động hao phí trong tiêu dùng nhƣng đƣợc tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá trị nguyên, nhiên vật liệu đƣợc chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đó. Tỷ trọng, thành phần, cơ cấu của các loại vốn này trong các doanh nghiệp khác nhau cũng khác nhau. Nếu nhƣ trong doanh nghiệp thƣơng mại tỷ trọng của loại vốn lƣu độngchiếm chủ yếu trong nguồn vốn kinh doanh thì trong doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng vốn cố định lại chiếm chủ yếu. Trong hai loại vốn này, vốn dài hạn có đặc điểm chu chuyển chậm hơn vốn ngắn hạn.
Trong khi vốn dài hạn chu chuyển đƣợc một vòng thì vốn ngắn hạn đã chu chuyển đƣợc nhiều vòng. Việc phân chia theo cách thức này giúp cho các doanh nghiệp thấy đƣợc tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn. Từ đó, doanh nghiệp chọn cho mình một cơ cấu vốn phù hợp.