chương 1 gồm 3 điều là những quy định chung và khái niệm cơ bản, chương 2 quy định về quản lý hoạt động SHTT, chương 3 quy định về tổ chức thực hiện. Nhìn chung, nội dung của quy định đã bao quát hết các hoạt động quản lý SHTT t việc quy định xây dựng quy trình phát hiện, khai báo, ghi nhận SHTT; xác lập quyền và tổ chức đánh giá khai thác thương mại SHTT. Quy định c ng nêu các vấn đề về xác định quyền chủ sở hữu đối với SHTT, chuyển giao quyền SHTT, bảo mật thông tin, tỷ lệ phân chia lợi ích, quy định việc xây dựng kế hoạch hoạt động, kế hoạch tài chính hàng năm nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy định về xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp, khen thưởng và xử lý vi phạm. Quy định khá chi tiết và đầy đủ.
Tuy nhiên, việc tiến hành triển khai tổ chức thực hiện quy định này không được như những gì mà nó hướng đến. Theo điều 5 của quy định, ngoài Bộ phận chuyên trách quản lý hoạt động SHTT được tổ chức ở ĐHH, các trường thành viên phải thành lập một bộ phận chuyên trách trực thuộc Thủ trưởng đơn vị ho c trực thuộc Ban phòng KHCN. Tuy nhiên, qua khảo sát, tác giả ghi nhận được r ng chỉ tại ĐHH mới thực sự cử chuyên viên chuyên trách về mảng này, còn ở các trường thành viên, các chuyên viên quản lý 16 SHTT đều là kiêm nhiệm. Ở cấp trường thành viên, bộ phận này thuộc Phòng KHCN và Hợp tác quốc tế (HTQT) quản lý gồm Trưởng phòng phụ trách và 1 chuyên viên kiêm nhiệm ( em phụ lục 3).
Công việc của Bộ phận này hầu như làm tất cả các hoạt động của việc quản lý SHTT t việc tổ chức xây dựng các văn bản, cơ chế, thủ tục, tổ chức thực hiện đến việc khai thác thương mại. Thêm một nghịch lý là tại cấp ĐHH, d có bộ phận chuyên trách nhưng xem ra bộ phận này lại chưa thực hiện hoạt động nào liên quan đến quản lý SHTT vì hầu như không có SHTT ở cấp ĐHH. Trong khi đó, tại các trường, nơi tập trung toàn bộ SHTT nhưng lại không có cán bộ chuyên trách. Đáng lưu ý hơn, công việc quản lý SHTT đòi hỏi sự hợp tác của nhiều cá nhân, nhiều bộ phận chức năng trong trường học thế nhưng, qua phỏng vấn nhanh, tác giả ghi nhận r ng ngay cả nhân viên của Phòng Tổ chức - Hành chính của trường ĐHSP c ng không biết sự tồn tại của một bộ phận chuyên trách SHTT ( em phụ lục 7).
Thực tế này phần nào chứng tỏ r ng việc thực hiện quy định dù được triển khai nhưng chưa đúng hướng: quản lý SHTT chỉ được xem là công việc chuyên môn của phòng KHCN. Ngoài ra, tại điều 5 quy định, các cộng tác viên, giảng viên thỉnh giảng và lao động hợp đồng khi đến làm việc tại ĐHH phải ký hợp đồng cam kết về SHTT. Việc này không những quan trọng trong việc xác định chủ sở hữu SHTT mà còn hình thành văn hóa và ý thức về SHTT cho những người đến làm việc với trường đại học. Tuy vậy, cho đến nay (5/2013), ĐHH vẫn chưa soạn thảo các cam kết về quyền sở hữu hay hợp đồng thỏa thuận giữa các bên liên quan về quyền sở hữu và tỷ lệ sở hữu, các quyền của m i bên đối với tài sản trí tuệ.
Tất cả các trường đều không thực hiện điều này, đây chỉ là một điều khoản mang tính hình thức. Chịu trách nhiệm về SHTT là bộ phận KHCN nhưng soạn thảo hợp đồng thì liên quan đến bộ phận hành chính – nhân sự. Khi được hỏi, cán bộ phụ trách tuyển dụng và hợp đồng của ĐHH cho biết “ĐHH hiện chỉ có hai loại hợp đồng, một là hợp đồng làm việc cho cán bộ biên chế theo mẫu quy định của Bộ GD&ĐT, hai là thể loại hợp đồng lao động theo mẫu của Bộ Lao động quy định. Chưa thấy lãnh đạo ĐHH đề cập đến bổ sung điều khoản hợp đồng cam kết về SHTT”.
Việc thực hiện các quy chế này càng trở nên bế tắc hơn khi những chuyên viên quản lý SHTT hầu như không được đào tạo chuyên môn về SHTT (một năm chỉ được tham gia 1, 2 hội thảo do Cục SHTT tổ chức). Do không có chuyên môn, chưa xây dựng được quy trình, những người này không biết phải lên kế hoạch hay tiến hành những hoạt động nào liên 17 quan đến SHTT công tác quản lý SHTT của họ c ng chỉ là công tác kiêm nhiệm nên vẫn chưa thực sự được chú trọng, công việc chính của họ vẫn là h trợ NCKH.H, chuyên viên làm công tác SHTT trường ĐHKH: “Hiện tại hoạt động SHTT đã làm được chỉ là báo cáo, thống kê theo các biểu mẫu mà ĐHH gửi về. D biết hoạt động SHTT là quan trọng nhưng do là công tác kiêm nhiệm nên không thể dành nhiều thời gian cho công tác này” ( em phụ lục 7). Như vậy, d ĐHH là một trong những trường đầu tiên xây dựng được quy định về quản lý SHTT, nhưng công tác tổ chức thực hiện quy định liên quan đến SHTT hầu như bị bỏ ngỏ, cơ cấu tổ chức chưa hợp lý, việc phổ biến quy chế chưa được thực hiện rộng rãi.
Đây có thể được xem là khâu quyết định đến hiệu quả của hoạt động quản lý SHTT. Sự bất cập ngay trong khâu đầu tiên này chắc chắn sẽ khiến toàn bộ quy trình công tác quản lý SHTT g p nhiều khó khăn. Phát hiện, khai báo, ghi nhận, thống kê sở hữu trí tuệ D quy định của ĐHH đã phân công cho Bộ phận chuyên trách quản lý hoạt động SHTT soạn thảo, xây dựng quy trình “Phát hiện, khai báo, ghi nhận SHTT” nhưng sau gần 03 năm thực hiện (t 2009 – 2012) vẫn chưa có được một quy trình nào được ban hành, gây lúng túng trong việc thực hiện. Hiện tại, công việc quản lý SHTT ở ĐHH chỉ d ng ở mức độ thống kê các công trình NCKH, còn việc đánh giá kết quả của các công trình này có tạo ra tài sản SHTT hay không thì vẫn chưa được quan tâm thực hiện.
được (Theo ông N., chuyên viên làm công tác SHTT của ĐHH, xem phụ lục 7). Sở dĩ việc phát hiện, khai báo, ghi nhận và thống kê SHTT chưa thực hiện được, theo tác giả do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Việc xác định một công trình NCKH có phải là một tài sản trí tuệ hay không không phải chỉ do bản thân người nghiên cứu kết hợp với các cán bộ quản lý về KHCN tiến hành mà phải do một bộ phận có chuyên môn kiểm tra và th m định. Tuy nhiên, ĐHH chưa có quy định rõ ràng nào về việc thành lập bộ phận các nhà chuyên môn để đánh giá một công trình khoa học nào đó có phải là SHTT hay không., Phòng KHCN-HTQT trường ĐHSP, xem phụ lục 7). 18 (ii) Do nhận thức và hiểu biết về SHTT còn hạn chế, một bộ phận giảng viên không coi những thứ mình làm ra có thể là SHTT, ai sao chép ho c sử dụng kết quả của họ thì họ c ng ít quan tâm.
(iii) Sự thiếu tin tưởng về sự h trợ của bộ phận SHTT ở nhà trường và sự đảm bảo về lợi ích kinh tế t phía nhà trường khiến chủ sở hữu SHTT tìm cách biến tài sản đó thành tài sản của cá nhân và tự khai thác ho c CGCN nhưng không khai báo. Đánh giá tiềm năng khai thác thương mại, xác lập quyền sở hữu và bảo hộ sở hữu trí tuệ Với m i đối tượng SHTT, việc đánh giá tiềm năng khai thác thương mại là một việc vô c ng cần thiết. Qua việc đánh giá này, chúng ta có thể nhận ra được giá trị hữu ích của tài sản, và ảnh hưởng của nó đối với xã hội c ng như những lợi ích về kinh tế mà nó mang lại cho chủ sở hữu. Nếu thực hiện tốt công tác này, có thể lựa chọn để bảo hộ và khai thác một cách có trọng điểm, tránh lãng phí về nhân lực và tài lực cho những tài sản không có giá trị ho c hạn chế về tiềm năng khai thác.
Qua điều tra, tác giả ghi nhận được r ng ở ĐHH hiện chưa có một bộ phận nào thực thi công việc khảo sát và đánh giá sơ bộ nh m nhận định khả năng khai thác thương mại của SHTT. Thực tế tiến hành công tác này không đơn giản bởi nó mang tính chuyên môn cao, chí ít bao gồm điều tra thị trường, dự báo công nghệ, đánh giá nhu cầu, định giá công nghệ và phối hợp nhiều bộ phận chức năng để thực hiện. Việc đánh giá tiềm năng khai thác thương mại của một SHTT trước hết phải thông qua phân tích về cung cầu của thị trường, về giá trị và khả năng phát triển của SHTT, về phương án khai thác và khả năng bảo hộ … tất cả những điều này nếu thực hiện phải cần huy động nhiều chuyên gia với những chuyên môn khác nhau để c ng nhau đánh giá. Quy định “Quản lý hoạt động SHTT” của ĐHH theo quyết định số 269 QĐ-ĐHH-KHCN đã có quy định về vấn đề này tại Điều 7 nhưng chỉ mang tính chất chung chung chứ chưa thực sự là một hướng dẫn cụ thể.
Để xác lập được quyền sở hữu đối với một tài sản phải xem xét đến tỷ lệ đóng góp nguồn lực để tạo ra tài sản đó. Đối với một tài sản bình thường thì không khó để xác định điều này. Tuy nhiên, đối với một đối tượng SHTT thì đây là một việc rất khó. Vì đã là SHTT thì phải có trí tuệ tích tụ bên trong nhưng đánh giá nguồn lực trí tuệ chiếm bao nhiêu phần trăm của tài sản thì rất khó xác định.
19 M t khác, việc xác lập quyền sở hữu đối với một đối tượng SHTT sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể liên quan nên việc phân định tỷ lệ đóng góp nguồn lực sẽ nảy sinh sự xung đột về lợi ích. Thực tế cho thấy có một số người nghiên cứu cho d đã sử dụng nguồn lực của trường đại học để phục vụ nghiên cứu (như d ng PTN, nguồn tư liệu tham khảo…), nhưng họ vẫn biến thành quả nghiên cứu thành tài sản cá nhân và tự khai thác mà không dành một phần lợi ích nào cho trường đại học.