mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể: Tolmachop A.I cho rằng: “chỉ cần điều tra trên cùng một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm đƣợc sự phong phú của nơi sống nhƣng không có sự phân hóa mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đƣa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thƣờng là 1500 – 2000 loài. Tại Việt Nam Ngày nay, quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phƣơng thức quản lý rừng phổ biến ở Việt Nam và tồn tại song song với các phƣơng thức quản lý khác nhƣ quản lý rừng của hệ thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhà nƣớc, quản lý rừng tƣ nhân.
Trong thực tiễn, có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau, đa dạng và phong phú của phƣơng thức quản lý rừng này càng khẳng định vai trò của quản lý rừng cộng đồng nhƣ: rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp đƣợc chính quyền địa phƣơng giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nƣớc (Lâm trƣờng, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, Ban quản lý các dự án) khoán cho các cộng đồng khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng; rừng và đất rừng của hộ gia đình và cá nhân là thành viên trong cộng đồng tự liên kết lại với nhau thành các nhóm cộng đồng (nhóm hộ) cùng quản lý để tạo nên sức mạnh để bảo vệ, hỗ trợ, đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp. 6 Tính đến 31 tháng 12 năm 20075 cả nƣớc có 10.006 cộng đồng dân cƣ thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít ngƣời, đang quản lý và sử dụng 2.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%). Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của cả nƣớc (12. Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đai đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4%.
Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc dụng (71%), rừng sản xuất chỉ chiếm 29%. Cộng đồng quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp nêu trên với 3 hình thức sau: - Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sau đây gọi tắt là giao) với diện tích 1.251,2 ha tƣơng đƣơng 58,8% diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý và sử dụng. - Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời nhƣng chƣa đƣợc Nhà nƣớc giao (chƣa có bất kỳ một loại giấy tờ hợp pháp nào, gọi tắt là chƣa giao) với diện tích 247.029,5 ha tƣơng đƣơng 8,9%. Đó là các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nƣớc, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng.
- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nƣớc (Lâm trƣờng, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ…) đƣợc các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm, gọi tắt là nhận khoán với diện tích 902.662,7 ha tƣơng đƣơng 32,3% Vùng Tây Bắc có tỷ lệ rừng cộng đồng cao nhất với 1.300,9 ha, chiếm 67,8% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý trên cả nƣớc. Tiếp đến là các vùng Đông Bắc 760.131,1 ha, vùng Tây Nguyên 62.422,3 ha và 7 Bắc Trung Bộ 58. Các vùng còn lại diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng chiếm một tỷ lệ nhỏ. Một số tỉnh không có diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồng quản lý bảo vệ.
Đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho phát triển LNCĐ, đƣợc thể hiện trong hai bộ luật lớn (Luật Đất đai năm 2003 và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004) và các văn bản chính sách khác. Khung pháp lý và chính sách này thể hiện các điểm căn bản nhƣ cộng đồng dân cƣ là chủ rừng, ngƣời sử dụng rừng có tƣ cách pháp nhân đầy đủ hoặc không đầy đủ tuỳ theo từng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối tƣợng rừng đƣợc giao hay nhận khoán. Cộng đồng đƣợc giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu dài khi đáp ứng các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành. Cộng đồng đƣợc hƣởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật.
Trong những năm qua, nhiều chƣơng trình, đề án, dự án về quản lý rừng cộng đồng của Chính phủ, các tổ chức Quốc tế đƣợc thực hiện ở nhiều nơi mang lại nhiều kết quả. Nhiều hoạt động về quản lý rừng cộng đồng đƣợc thực hiện trên khắp cả nƣớc đã mang lại nhiều thành công. Bài học từ thực tiễn chỉ ra rằng có nhiều điển hình tốt về quản lý rừng cộng đồng bởi các quy ƣớc của cộng đồng, nghĩa vụ và quyền lợi công bằng cho các thành viên trong cộng đồng, các thành viên trong cộng đồng ý thức về rừng bằng sự tự giác vốn có, bằng sự nghiêm khắc của cộng đồng và bằng sự tín ngƣỡng hoặc tâm linh. Các loại rừng cộng đồng hình thành từ các nguồn gốc khác nhau nhƣng đều đƣợc 3 chủ thể chính quản lý là cộng đồng dân cƣ thôn, dòng tộc và nhóm hộ hoặc nhóm sở thích.
Đối với rừng do cộng đồng dân cƣ thôn và dòng tộc quản lý thƣờng ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trƣờng kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp. Rừng do nhóm hộ hoặc nhóm sở thích tự cùng nhau liên kết để quản lý thƣờng ở các vùng sản xuất và thị trƣờng phát triển, đang dần tiếp cận đến phƣơng thức sản xuất hàng hóa, trình độ sản xuất của các hộ 8 nông dân cao, khả năng đầu tƣ lớn. Chính từ cơ sở này mà quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam đang dần hình thành theo 2 xu hƣớng phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng vùng, đó là quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế và quản lý rừng cộng đồng cho sản xuất hàng hóa. Quản lý rừng cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế ở các vùng sâu, vùng xa vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất và thị trƣờng kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp.
Các sản phẩm từ rừng chủ yếu đƣợc sử dụng cho tiêu dùng trong cộng đồng nhƣ gỗ để làm nhà, củi đốt, khai thác lâm sản ngoài gỗ. Rừng đƣợc quản lý theo truyền thống đƣợc quy định trong hƣơng ƣớc của cộng đồng. Nhà nƣớc và địa phƣơng cần có chính sách riêng về quy chế khai thác và sử dụng lâm sản cũng nhƣ cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, tổ chức và vốn để cộng đồng có thể quản lý rừng. Quản lý rừng cộng đồng cho sản xuất hàng hóa ở các vùng sản xuất và thị trƣờng phát triển, đang dần tiếp cận đến sản xuất hàng hóa, trình độ sản xuất của các hộ nông dân cao, khả năng đầu tƣ lớn.
Các hình thức quản lý rừng cộng đồng sẽ đa dạng và phong phú và ở trình độ cao hơn nhƣ thành lập tổ chức kinh tế rừng cộng đồng có pháp nhân, có thể là hợp tác xã của cộng đồng, doanh nghiệp cộng đồng cho quản lý rừng và chế biến lâm sản, v. hoạt động theo luật doanh nghiệp. Trong trƣờng hợp này, cộng đồng dân cƣ thôn sẽ tiến tới thực sự là chủ thể đầy đủ trong quản lý và sử dụng rừng. Thực tiễn cũng cho thấy do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể có một mô hình LNCĐ chung mà cần có các loại hình LNCĐ khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể.
Nhiều vấn đề đang đặt ra cho quản lý rừng cộng đồng nhƣ địa vị pháp lý của cộng đồng dân cƣ thôn trong quản lý rừng, các khía cạnh về quyền đầy đủ khi cộng đồng tham gia quản lý rừng, kế hoạch quản lý rừng, sử dụng thƣơng mại sản phẩm từ rừng cộng đồng, cơ chế hƣởng lợi, tổ chức quản lý rừng. Cơ sở pháp lý tác động đến quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam Hiện nay, cộng đồng quản lý rừng là một thực tiễn. Thực tiễn này đang chỉ ra nhiều hình thái và cách thức cộng đồng tham gia quản lý rừng, trong khi 9 các khía cạnh về mặt pháp lý và chính sách về cơ chế hƣởng lợi cho đối tƣợng cộng đồng dân cƣ thôn quản lý rừng đáng đƣợc từng bƣớc cải thiện nhƣng vẫn còn nhiều điểm chƣa rõ ràng. Khuôn khổ luật pháp và chính sách của Chính phủ dần đƣợc hình thành và tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát 6 triển.
- Luật Dân sự nƣớc CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2005, quy đinh: “cộng đồng dân cƣ thôn có quyền sở hữu với tài sản đƣợc hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên cộng đồng đóng góp nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp cả cộng đồng. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng theo thỏa thuận vì lợi ích của cộng đồng”. - Luật Đất đai đƣợc Quốc hội nƣớc CHXHCN Việt Nam ban hành tháng 11 năm 2003 (gọi tắt là Luật Đất đai 2003) luật quy định một số điều liên quan đến rừng cộng đồng nhƣ sau: Trong điều 9 khoản 3 của luật Đất đai ghi rõ: “Cộng đồng dân cƣ gồm cộng đồng ngƣời Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cƣ tƣơng tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ đƣợc Nhà nƣớc giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;”.