Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lâm nghiệp cộng đồng ở một số nước trên thế giới LNCĐ trên thế giới đã có từ lâu đời, với nhiều hình thức và thể chế quản lý khác nhau ở mỗi nước. Họ đã thử nghiệm khá thành công cách tiếp cận có sự tham gia của người dân, phát huy kiến thức bản địa, nâng cao năng lực của cộng đồng thiểu số để xây dựng các mô hình LNCĐ. Phần này trình bày một số nét khái quát về hình thức và cơ chế chia sẻ trong LNCĐ ở một số nước thuộc khu vực Châu Á, nơi mà QLRCĐ đã đạt được những thành tựu khá nổi trội và có nhiều nét tương đồng, gần gũi với LNCĐ ở Việt Nam.
Nepal [22] Năm 1957, Chính phủ quốc hữu hoá rừng. Hệ thống luật pháp và chính sách những năm 60 chủ yếu nhằm bảo vệ rừng và tập trung hoá quyền quản lý rừng cho nhà nước. QLRCĐ được thực hiện trên cơ sở các hệ thống quản lý rừng bản địa trên các vùng đồi núi ở Nepal từ những năm 1970 và đã được coi như là biểu tượng và hình mẫu về quản lý rừng trên thế giới. Hiện nay đã có khoảng 14.572 nhóm sử dụng rừng (Forest User Groups - FUGs) đã được đăng ký ở Nepal chiếm 1,2 triệu ha đất rừng (25%).
Năm 1978, chính sách LNCĐ được ban hành, trong đó qui định các cộng đồng được quyền quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vị trí lãnh thổ của họ nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng. Luật pháp qui định chức năng, nhiệm vụ cho các nhóm sử dụng như sau: Giao hoàn toàn các khu rừng có thể phân cho nhóm sử dụng không kể biên giới hành chính, tăng quyền hạn và ưu tiên đào tạo để quản lý rừng nhằm phục vụ nhu cầu từ rừng của họ. Theo Duhugen, Shrestha, Pokharel (2010), các nhóm sử dụng rừng được bầu chọn và thay đổi Ban điều hành bất kể thời gian nào và có quyền trừng phạt các thành viên không tuân thủ quy ước. Phòng lâm nghiệp huyện là cơ quan phê duyệt kế hoạch QLRCĐ quản và có quyền thu hồi rừng nếu nhóm hoạt động sai với kế hoạch được phê duyệt.
Về mặt cơ chế chia sẻ lợi ích, các nhóm sử dụng được hưởng tất cả các khoản thu nhập từ nguồn tài nguyên. Các nhóm sử dụng rừng có quyền 4 tạo quỹ từ việc bán các sản rừng theo giá của thị trường tự do, tự lập tài khoản và quản lý quỹ. Hàng năm được tiến hành khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ (theo kế hoạch được phê duyệt). Những nghiên cứu về chính sách LNCĐ ở Nepal gần đây đã cho thấy cần phải hỗ trợ các cộng đồng và nhóm sử dụng rừng trở thành những đơn vị có tư cách pháp nhân (dưới dạng hợp tác xã hoặc công ty) có thể giao dịch với các tổ chức chính thống như ngân hàng và các đối tác trong và ngoài nước, để từ đó họ có thể ký kết các hợp đồng kinh tế nhằm hỗ trợ sinh kế của người quản lý rừng.
Ấn Độ [26] Năm 1951, Ấn Độ tiến hành quốc hữu hoá các tài nguyên rừng và thực hiện luật cải cách ruộng đất. Vào đầu những năm 1970, chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển trên đất lâm nghiệp. Do các chương trình lâm nghiệp xã hội (LNXH) không mang lại kết quả như mong đợi, từ năm 1988, chính phủ ban hành chính sách mới về đồng quản lý rừng (joint forest management- JFM) trên đất lâm nghiệp. Mục tiêu cơ bản là lôi kéo và khuyến khích người dân và cộng đồng tham gia vào quản lý tài nguyên rừng trên đất lâm nghiệp của Nhà nước.
Chương trình LNXH được thực hiện trên đất của làng bản và tư nhân. Mục tiêu của chương trình nhằm giảm sức ép đối với các khu rừng công nghiệp do chính phủ quản lý. Chính phủ huy động nông dân, trường học và các tổ chức xã hội tham gia vào trồng rừng gỗ nhiên liệu. Chương trình JFM do chính phủ và cộng đồng cùng quản lý các khu rừng trên đất lâm nghiệp của nhà nước.
Hiện nay đã có tới 100,000 làng bản tham gia theo chương trình JFM và hiện đang quản lý khoảng 22 triệu ha rừng (khoảng 28% tổng diện tích rừng của Ấn Độ) đối với tất cả các loại rừng (trừ khu bảo tồn thì không được khai thác). Theo các quy định pháp luật ban hành, người dân được sử dụng 100 % các sản phẩm phụ từ rừng như gỗ củi, LSNG, gỗ nhỏ từ tỉa thưa để sửa chữa nhà cửa và 10-25% giá trị sản phẩm gỗ từ khai thác chính (tỷ lệ này khác nhau theo các bang). Indonesia [21] Năm 1991, chương trình phát triển lâm nghiệp được hình thành, năm 1995 được đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng lâm nghiệp do bộ lâm 5 nghiệp quản lý (dẫn theo Đinh Đức Thuận, 2000) chương trình này yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải góp phần phát triển nông thôn và BVR với ba mục tiêu. - Cải thiện điều kiện sống cho cho người dân sống trong và ngoài khu vực đang khai thác gỗ.
- Nâng cao chất lượng và năng suất của rừng - BVR và môi trường Năm 1996 Bộ lâm nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và các trường đại học đã xây dựng một dự án điểm để người dân vào bảo vệ và phát triển rừng. Dự án này cho phép người dân được quản lý 10.000 ha rừng có khả năng khai thác gỗ. Thái Lan [27] Từ những năm 1968, chính phủ ban hành chính sách khuyến khích người dân định canh định cư trên các vùng đất đã bị tàn phá nặng nề do đốt nương làm rẫy và khai thác gỗ. Chính sách lâm nghiệp năm 1985 đã chỉ rõ: - Các cộng đồng, tổ chức và cá nhân phải cùng nhau phát triển và quản lý các vùng lâm nghiệp.
- Nhà nước phát triển một chương trình khuyến lâm để nâng cao nhận thức và hỗ trợ nông dân phát triển lâm nghiệp. - Khuyến khích phát triển mọi hoạt động LNCĐ. - Phát triển hệ thống khuyến khích trồng rừng do các hộ gia đình đảm nhận. Năm 1989, Cục lâm nghiệp Hoàng gia đã đưa ra chính sách về phát triển LNCĐ.
Năm 1992, Cục lâm nghiệp Hoàng gia lại đưa ra chỉ thị và hướng dẫn mới qui định phân quyền hạn nhiều hơn cho các cấp tỉnh và huyện, chức năng khuyến lâm được nhấn mạnh hơn là chức năng bảo vệ thuần tuý. Thời kỳ những năm 1980, chính phủ phát triển các chương trình LNCĐ và hình thành hệ thống khuyến lâm trong toàn quốc. Trong giai đoạn 1954 - 1967, các tổ chức công nghiệp rừng đã hình thành chương trình làng lâm nghiệp trên cơ sở giao giao đất của Nhà nước. Các tổ chức quốc tế đầu tư vào phát triển LNCĐ qua các dự án như: Dự án quản lý vùng đệm, dự án phát triển LNCĐ của Thụy Sỹ, dự án bảo tồn thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng của Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới.
6 Xét về mặt cơ chế hưởng lợi, về các lợi ích trực tiếp trong QLRCĐ, cộng đồng được hưởng các loại LSNG như củi, rau, nấm, cây dược liệu, hoa quả v. Không được khai thác gỗ theo quy định cấm khai thác gỗ ban hành năm 1989. Các lợi ích gián tiếp mà cộng đồng có thể được hưởng từ du lịch sinh thái (Jantarasantool, 2010). Phillippin Tại Phillippin có những cơ chế công nhận quyền sử dụng đất rừng lâu dài cho cộng đồng.
Đến thời kỳ những năm 1980, Chính phủ phát triển 3 chương trình, trong đó liên kết lâm nghiệp với các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Các chương trình và dự án phát triển lâm nghiệp dựa trên cộng đồng đã qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn từ 1971- 1980: Hình thành 3 chương trình lâm nghiệp hướng tới người dân là quản lý nghề rừng, tiếp cận hộ gia đình trồng rừng. - Giai đoạn từ 1981- 1989: Đây là gia đoạn liên kết và tổng hợp phát triển hướng tới con người là chương trình LNXH tổng hợp và chương trình LNCĐ. - Giai đoạn 1990 đến nay: Là giai đoạn mở rộng và phối hợp hoá.
Đặc điểm của giai đoạn này là sự phát triển và gia tăng của LNCĐ đối với nhiều loại đất khác nhau không chỉ dừng lại như ở 2 giai đoạn đầu. Các chương trình và dự án LNCĐ phát triển đã chỉ ra xu hướng sau: + Dân chủ hoá phi tập trung việc quản lý tài nguyên rừng qua việc phát triển nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau. + Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vùng núi qua việc tự quản lý các nguồn tài nguyên của họ và phát triển kỹ thuật khi tham gia của người dân quản lý. + Bình đẳng xã hội, giảm nghèo, phát triển bền vững được thực hiện ngay từ giai đoạn thiết kế và thực hiện của các dự án lâm nghiệp cộng đồng.
+ Mở rộng sự tham gia của nhiều tổ chức khác nhau + Các tổ chức tài trợ gia tăng sự ủng hộ với các chương trình + Hình thành các vùng đệm cho vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. + Tất cả các dự án phát triển LNCĐ đều được yêu cầu chuyển giao đến các tổ chức chính quyền địa phương. Nhật Bản [32] Nhật bản hiện có 25,21 triệu ha rừng, trong đó: rừng công đồng chiếm 10%; rừng tư nhân chiếm 60% rừng quốc gia chiếm 30%. Từ đam mê và quan tâm đến văn hóa, người nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn.
Vì vậy thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp rừng và quản lý tài nguyên rừng ở Nhật Bản đều được công bố rõ ràng để đẩy mạnh và phát triển bền vững, dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay từ những năm 1800. Tóm lại: QLRCĐ trên thế giới đa dạng về hình thức quản lý, từ việc phân quyền khá cao như ở Nepal, đến hình thức đồng quản lý như ở Ấn Độ. Cơ chế hưởng lợi cũng khá đa dạng, từ việc khá mở như ở Nepal đến dựa trên cơ sở liên doanh giữa cộng đồng và các công ty lâm nghiệp như ở Thái Lan. Vai trò của các cơ quan lâm nghiệp cấp huyện là khá lớn vừa mang tính chất hỗ trợ (lập kế hoạch, khuyến lâm,.) đến phê duyệt và giám sát.
Ở hầu hết các nước để phát triển LNCĐ, các chính phủ đều có chính sách hỗ trợ về miễn/giảm thuế khai thác tài nguyên và/hoặc hỗ trợ tài chính, tuy có mức độ khác nhau ở mỗi nước.