Luận văn: Quản lý quỹ đất công ích tại quận Long Biên, Hà Nội

Luận văn thạc sĩ: Quản lý quỹ đất công ích tại quận Long Biên, Hà Nội. Nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

103
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý quỹ đất công ích quận Long Biên 2024

Quản lý quỹ đất công ích là một nhiệm vụ trọng yếu, phản ánh năng lực điều hành của chính quyền và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tại quận Long Biên, một trong những quận có tốc độ đô thị hóa nhanh của Hà Nội, công tác này càng trở nên cấp thiết. Đất công ích, hay còn gọi là quỹ đất 5%, là phần diện tích đất nông nghiệp được trích lại theo quy định của pháp luật để phục vụ các nhu cầu công cộng tại địa phương. Nguồn đất này đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội như trường học, nhà văn hóa, khu vui chơi, cũng như tạo quỹ đất dự phòng cho các mục tiêu phát triển dài hạn. Việc quản lý quỹ đất công ích quận Long Biên - Hà Nội hiệu quả không chỉ đảm bảo sử dụng nguồn lực đúng mục đích, ngăn chặn lãng phí, tiêu cực mà còn góp phần ổn định an sinh xã hội, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và người dân. Luận văn thạc sĩ của Ngô Tuấn Ngọc (2016) đã chỉ rõ, trong giai đoạn 2005-2015, quận Long Biên đã đạt được những kết quả nhất định nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Bước sang giai đoạn mới, đặc biệt với sự ra đời của Luật Đất đai 2024, yêu cầu về một cơ chế quản lý minh bạch, khoa học và chặt chẽ càng được đặt lên hàng đầu. Các hoạt động quản lý bao gồm từ việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tổ chức cho thuê đất công ích hoặc đấu giá đất công một cách công khai, đến việc thanh tra, kiểm tra và xử lý lấn chiếm đất công ích. Tất cả đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và chính sách đất đai Hà Nội, đảm bảo mọi tấc đất công được sử dụng với hiệu quả cao nhất, phục vụ lợi ích chung của cộng đồng.

1.1. Khái niệm và vai trò của quỹ đất 5 tại địa phương

Theo quy định pháp luật, quỹ đất 5% là diện tích đất được giữ lại từ tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản của mỗi xã, phường. Mục đích chính của quỹ đất này là để xây dựng các công trình công cộng, phúc lợi xã hội tại địa phương. Tại Long Biên, quỹ đất này có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn. Về kinh tế, nguồn thu từ việc cho thuê đất công ích hợp pháp góp phần bổ sung ngân sách địa phương để tái đầu tư cho hạ tầng. Về xã hội, nó cung cấp mặt bằng để xây dựng trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, giúp nâng cao chất lượng sống cho người dân. Đây là nguồn lực quan trọng để UBND quận Long Biên và chính quyền cấp phường chủ động thực hiện các mục tiêu phát triển tại cơ sở.

1.2. Cơ sở pháp lý điều chỉnh đất công quận Long Biên

Công tác quản lý đất công quận Long Biên được điều chỉnh bởi một hệ thống văn bản pháp luật chặt chẽ. Nền tảng pháp lý cao nhất là Hiến pháp và Luật Đất đai. Gần đây nhất, Luật Đất đai 2024 mang đến nhiều quy định mới, tiến bộ về quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, và đặc biệt là cơ chế tài chính đất đai. Bên cạnh đó, các nghị định về quản lý đất công ích của Chính phủ và các quyết định, chỉ thị của UBND Thành phố Hà Nội, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội là căn cứ pháp lý trực tiếp để quận Long Biên triển khai. Việc nắm vững và áp dụng đúng các thủ tục hành chính đất đai theo quy định là yêu cầu bắt buộc đối với mọi cán bộ làm công tác quản lý, đảm bảo tính pháp chế và hiệu quả.

1.3. Vai trò của UBND và Trung tâm phát triển quỹ đất Long Biên

UBND quận Long Biên là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý nhà nước toàn diện về đất đai trên địa bàn, bao gồm cả quỹ đất công ích. Dưới sự chỉ đạo của UBND quận, Trung tâm phát triển quỹ đất Long Biên đóng vai trò là đơn vị sự nghiệp trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ như giải phóng mặt bằng, tạo lập và phát triển quỹ đất, tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai cơ quan này và chính quyền cấp phường là yếu tố quyết định đến sự thành công của công tác quản lý, từ việc lập bản đồ quy hoạch Long Biên đến việc thu hồi đất công bị sử dụng sai mục đích, đảm bảo nguồn lực đất đai được khai thác hiệu quả.

II. Thách thức lớn trong quản lý quỹ đất công ích Long Biên

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác quản lý quỹ đất công ích quận Long Biên - Hà Nội vẫn đối diện với không ít khó khăn và thách thức. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã tạo ra áp lực khổng lồ lên quỹ đất, khiến giá đất tăng cao, làm gia tăng các hành vi vi phạm. Một trong những vấn đề nhức nhối nhất là tình trạng lấn chiếm, sử dụng sai mục đích. Nhiều diện tích đất công ích bị các hộ gia đình, cá nhân tự ý xây dựng công trình trái phép, hoặc sử dụng vào mục đích kinh doanh thay vì sản xuất nông nghiệp như hợp đồng thuê. Việc xử lý lấn chiếm đất công ích gặp nhiều khó khăn do vướng mắc về cơ chế, lịch sử để lại và đôi khi là sự nể nang, thiếu quyết liệt của chính quyền cơ sở. Bên cạnh đó, công tác quản lý việc cho thuê đất công ích còn bộc lộ nhiều bất cập. Một số địa phương chưa thực hiện đúng quy trình đấu giá công khai, minh bạch, dẫn đến thất thoát ngân sách và tạo ra dư luận không tốt. Hợp đồng cho thuê đôi khi không chặt chẽ, tạo kẽ hở cho người thuê sử dụng sai mục đích hoặc chây ì không trả lại đất khi hết hạn. Ngoài ra, việc thiếu một hệ thống thông tin đất đai đồng bộ, hiện đại cũng là một rào cản lớn. Việc công khai thông tin đất đai, đặc biệt là thông tin về quy hoạch sử dụng đất Long Biên, chưa được thực hiện thường xuyên, khiến người dân và doanh nghiệp khó tiếp cận, giám sát. Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho công tác quản lý mà còn là mảnh đất màu mỡ cho các hành vi tiêu cực, tham nhũng phát sinh, làm suy giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực quý giá của quốc gia.

2.1. Thực trạng lấn chiếm và sử dụng đất sai mục đích

Tình trạng lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đất công ích là một trong những vi phạm phổ biến tại Long Biên. Theo các báo cáo, nhiều khu đất công đã bị chiếm dụng trong thời gian dài để làm nhà ở, nhà xưởng, bãi trông giữ xe. Hơn nữa, nhiều trường hợp được cho thuê đất công ích để sản xuất nông nghiệp nhưng lại tự ý chuyển đổi sang mục đích kinh doanh, dịch vụ. Việc sử dụng đất đúng mục đích là nguyên tắc cốt lõi nhưng chưa được giám sát chặt chẽ. Hệ quả là làm phá vỡ quy hoạch, gây lãng phí tài nguyên và tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, đòi hỏi phải có các biện pháp xử lý kiên quyết.

2.2. Bất cập trong quy trình cho thuê đấu giá đất công

Quy trình cho thuê đất công íchđấu giá đất công ở một số phường còn tồn tại hạn chế. Thay vì tổ chức đấu giá công khai để chọn được người trả giá cao nhất, một số nơi lại thực hiện theo hình thức chỉ định hoặc đấu giá hình thức, thiếu cạnh tranh. Điều này không chỉ gây thất thu cho ngân sách nhà nước mà còn tiềm ẩn nguy cơ lợi ích nhóm. Các hợp đồng cho thuê cần được chuẩn hóa, quy định rõ ràng về mục đích sử dụng, thời hạn và các chế tài xử lý vi phạm để đảm bảo tính ràng buộc pháp lý, ngăn chặn việc sử dụng đất sai cam kết và dễ dàng thu hồi đất công khi cần thiết.

2.3. Hạn chế trong công tác công khai thông tin đất đai

Minh bạch hóa thông tin là chìa khóa để quản lý hiệu quả và phòng chống tham nhũng. Tuy nhiên, việc công khai thông tin đất đai tại Long Biên vẫn còn hạn chế. Thông tin về quỹ đất công ích hiện có, các kế hoạch cho thuê, đấu giá, và đặc biệt là bản đồ quy hoạch Long Biên chi tiết chưa được công bố rộng rãi và dễ tiếp cận. Điều này làm giảm khả năng giám sát của người dân và cộng đồng đối với hoạt động của chính quyền. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và cổng thông tin điện tử là giải pháp cấp bách để khắc phục hạn chế này.

III. Phương pháp quy hoạch và chính sách quản lý đất hiệu quả

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, việc đổi mới phương pháp quy hoạch và hoàn thiện chính sách là yêu cầu tiên quyết trong quản lý quỹ đất công ích quận Long Biên - Hà Nội. Trọng tâm của giải pháp là phải xây dựng và thực thi một hệ thống quy hoạch sử dụng đất Long Biên khoa học, có tầm nhìn dài hạn và đảm bảo tính minh bạch. Quy hoạch không chỉ là việc phân bổ các lô đất mà phải dựa trên sự phân tích sâu sắc về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và nhu cầu phát triển của từng phường. Quá trình lập quy hoạch cần có sự tham gia, góp ý của cộng đồng dân cư để tạo sự đồng thuận cao. Việc áp dụng các quy định mới của Luật Đất đai 2024 phải được triển khai quyết liệt, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch. Song song với đó, quận Long Biên cần cụ thể hóa các chính sách đất đai Hà Nội thành các quy định, quy chế riêng, phù hợp với đặc thù địa phương. Cần xây dựng một bộ tiêu chí rõ ràng cho việc cho thuê đất công ích, ưu tiên các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nhu cầu thực sự. Quy trình đấu giá đất công phải được chuẩn hóa, đảm bảo công khai, minh bạch từ khâu thông báo đến khi công bố kết quả. Toàn bộ thông tin về quỹ đất, kế hoạch sử dụng, kết quả đấu giá phải được công khai thông tin đất đai trên cổng thông tin điện tử của quận và niêm yết tại trụ sở UBND các phường. Điều này không chỉ giúp người dân giám sát mà còn tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tối đa hóa nguồn thu cho ngân sách.

3.1. Hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất Long Biên tầm nhìn 2030

Công tác rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất Long Biên cần được thực hiện khẩn trương. Quy hoạch phải xác định rõ vị trí, diện tích, ranh giới của từng khu đất công ích trên thực địa và thể hiện trên bản đồ quy hoạch Long Biên. Cần dự báo các nhu cầu phát triển trong tương lai để dành quỹ đất phù hợp cho các công trình hạ tầng xã hội và kỹ thuật. Quy hoạch được duyệt phải là công cụ pháp lý cao nhất để quản lý, ngăn chặn tình trạng sử dụng đất tùy tiện, manh mún, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và hiệu quả.

3.2. Vận dụng Luật Đất đai 2024 vào quản lý quỹ đất 5

Luật Đất đai 2024 mang đến nhiều điểm mới cần được UBND quận Long Biên và các phòng ban chuyên môn nhanh chóng cập nhật và vận dụng. Các quy định về việc giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá, đấu thầu; về việc xác định giá đất theo nguyên tắc thị trường; và về cơ chế thu hồi đất công vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội cần được áp dụng một cách triệt để. Việc tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến luật cho đội ngũ cán bộ địa chính từ quận đến phường là cực kỳ quan trọng để đảm bảo việc thực thi pháp luật được đồng bộ và chính xác.

3.3. Xây dựng chính sách cho thuê đấu giá đất công minh bạch

Quận Long Biên cần ban hành một quy chế riêng về việc quản lý, sử dụng quỹ đất 5%. Quy chế này phải quy định chi tiết về đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục hành chính đất đai liên quan đến việc thuê đất. Đối với các khu đất có giá trị thương mại cao, cần bắt buộc áp dụng hình thức đấu giá đất công. Giá khởi điểm phải được xác định bởi một tổ chức thẩm định giá độc lập, đảm bảo sát với giá thị trường. Toàn bộ quy trình phải được giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan chức năng và đại diện cộng đồng để ngăn ngừa tiêu cực.

IV. Bí quyết tăng cường giám sát và xử lý vi phạm đất công

Bên cạnh việc hoàn thiện quy hoạch và chính sách, hiệu quả của công tác quản lý quỹ đất công ích quận Long Biên - Hà Nội phụ thuộc rất lớn vào khâu tổ chức thực hiện, đặc biệt là công tác giám sát và xử lý vi phạm. Một trong những giải pháp then chốt là nâng cao vai trò và trách nhiệm của bộ máy quản lý đất đai cấp phường/xã. Cán bộ địa chính phường là những người gần dân nhất, nắm rõ nhất tình hình sử dụng đất trên địa bàn. Do đó, cần tăng cường năng lực, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Chủ tịch UBND phường trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm ngay từ khi mới phát sinh. Hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được tiến hành thường xuyên, đột xuất thay vì theo kế hoạch định kỳ. UBND quận Long Biên cần chỉ đạo các phòng ban chức năng, đặc biệt là phòng Tài nguyên và Môi trường, xây dựng kế hoạch thanh tra chuyên đề về quản lý đất công ích tại các phường. Mọi hành vi vi phạm, dù lớn hay nhỏ, đều phải được lập biên bản và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Việc kiên quyết xử lý lấn chiếm đất công íchthu hồi đất công sử dụng sai mục đích không chỉ lập lại trật tự kỷ cương mà còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Cuối cùng, cần phát huy tối đa vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và đặc biệt là của cộng đồng dân cư. Việc công khai thông tin đất đai là điều kiện cần, nhưng việc tạo cơ chế để người dân phản ánh, tố giác các hành vi vi phạm một cách thuận lợi, an toàn là điều kiện đủ để tạo nên một mạng lưới giám sát toàn diện, hiệu quả.

4.1. Nâng cao vai trò quản lý đất đai của chính quyền cấp phường

Hiệu quả quản lý bắt nguồn từ cơ sở. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ địa chính phường. Đồng thời, phải gắn trách nhiệm của người đứng đầu UBND phường với kết quả quản lý đất công ích trên địa bàn. Nếu để xảy ra tình trạng lấn chiếm, xây dựng trái phép kéo dài mà không xử lý, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước cấp trên. Mô hình quản lý đất đai cấp phường/xã chủ động, trách nhiệm là chìa khóa để giữ vững kỷ cương.

4.2. Tăng cường thanh tra kiên quyết xử lý lấn chiếm đất công

Công tác thanh tra cần tập trung vào các địa bàn nóng, có nhiều vi phạm. Lực lượng thanh tra của quận và Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cần phối hợp chặt chẽ. Đối với các trường hợp vi phạm đã có kết luận, cần督促, giám sát việc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Việc xử lý lấn chiếm đất công ích phải được thực hiện dứt điểm, tránh tình trạng tái lấn chiếm. Công khai kết quả xử lý vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng là một biện pháp hiệu quả để nâng cao tính răn đe.

4.3. Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và các tổ chức

Sức mạnh của nhân dân trong giám sát là vô cùng to lớn. Quận Long Biên cần thiết lập các kênh tiếp nhận thông tin phản ánh từ người dân như đường dây nóng, hộp thư điện tử, các buổi tiếp xúc cử tri. Mọi phản ánh, tố cáo phải được xác minh và trả lời công khai. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể trong việc tuyên truyền, vận động người dân chấp hành pháp luật đất đai và tham gia giám sát cần được đề cao. Khi người dân thực sự là chủ thể giám sát, mọi hành vi tiêu cực sẽ khó có thể tồn tại.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý quỹ đất công ích trên địa bàn quận long biên thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NG N NH H NH NGHI N C CƠ N H C I N N C NG CH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay, ở trong nƣớc và ngoài nƣớc, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dƣới hình thức và phạm vi khác nhau liên quan đến đến vấn đề quản l đất đai nói chung và quỹ đất công ích nói riêng. Dƣới đây, xin điểm qua một số công trình có liên quan đến đề tài luận văn. “Chính sách về đất đai” (Land policy - 2003) và “Chính sách DĐ của địa phương và s khuyến khích đầu tư” (Local land use policy and investment incentives - 2004) của Ngân hàng Thế giới: Những nghiên cứu này đã đƣa ra chính sách quản l đất đai QLĐĐ); cảnh báo về những sai lầm trong các quy định, phƣơng thức quản l và SDĐ của chính quyền địa phƣơng có thể làm ảnh hƣởng đến tốc độ và kiểu mẫu phát triển đô thị, cũng nhƣ sức ép của các quy định pháp luật đối với các nhà hoạch định chính sách có thể làm thay đổi những tác động đƣợc mong đợi trong quản l và SDĐ [23, tr231].

“Những chính sách đất đai cho phát triển và xoá giảm đói nghèo” (Land policies for growth and poperty reduction - 2004), của Ngân hàng Thế giới: là công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa chính sách QLNN về đất đai, khuynh hƣớng SDĐ ảnh hƣởng đến phát triển và nghèo đói của các nƣớc đang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm xóa giảm đói nghèo, thúc đẩy phát triển bền vững [24, tr102]. “ trengthening environmental Management and and Administration Viet Nam- weden comporation Program EM A)”, đánh giá đối với hệ thống Luật Đất đai của Việt Nam nhƣ: “Các báo cáo đánh giá hệ thống Luật 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đất đai” 2006), đây là công trình nghiên cứu, rà soát hệ thống pháp luật đất đai hiện nay của Việt Nam, so sánh hệ thống luật hiện hành với hệ thống pháp luật đất đai của thế giới và đƣa ra một số khuyến nghị hoàn thiện hệ thống luật đất đai của Việt Nam [25, tr91]. Nghiên cứu của các nhà khoa học trong nƣớc đối với QLNN về đất đai ở Việt Nam, trƣớc tiên có thể kể đến các công trình nghiên cứu ở cấp luận án tiến sĩ nhƣ: Luận án Tiến sĩ kinh tế của Trần Thế Ngọc (1997), "Chiến lược Q ĐĐ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010", đã tập trung nghiên cứu công tác lập và quản lý quy hoạch SDĐ của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2010; từ đó đề xuất định hƣớng và giải pháp quản l và SDĐ cho những năm tiếp theo [12, tr45]. Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2003), "Địa vị pháp lý người DĐ trong các giao dịch dân s , thương mại về đất đai", nghiên cứu về các quy định của pháp luật, địa vị của ngƣời SDĐ, ảnh hƣởng đến các giao dịch về đất đai cũng nhƣ việc quản l và thúc đẩy sự phát triển thị trƣờng bất động sản và hoàn thiện pháp luật đất đai [18, tr65].

Ngoài ra, còn có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nƣớc của PGS- Tiến sĩ Phạm Hữu Nghị (2000), Viện Nghiên cứu địa chính thuộc Tổng cục Địa chính: "Những quy định về chuyển quyền DĐ"; một số đề tài khoa học cấp Bộ do Viện Nghiên cứu địa chính thực hiện; các bài báo viết về các vấn đề cụ thể nhƣ: thị trƣờng bất động sản, công tác GPMB, công tác cấp giấy CNQSDĐ. TS Nguyễn Minh Quang 2012) , “Luật Đất đai năm 2003: Những vấn đề đặt ra từ th c tiễn và kiến nghị bổ sung, sửa đổi”, Tạp chí Cộng sản, số 835, 5-2012 và “Nâng cao hiệu quả trong quản lý Nhà nước về đất đai”, TS Phạm Việt Dũng, Tạp chí Cộng sản, số 845, 3-2013: Các bài viết này nhấn mạnh quản l nhà nƣớc về đất đai phải xem xét một cách toàn diện, đầy đủ ở 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các mặt kinh tế, chính trị, xã hội; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nƣớc, nhà đầu tƣ và ngƣời sử dụng đất [16, tr34], [8, tr34]. Trần Tú Cƣờng 2010) “Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Hà Nội”, luận án tiến sĩ kinh tế bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Trong luận án này, tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận về quan hệ sử dụng đất; vấn đề đô thị hóa và vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với đất đai; nêu lên những tồn tại, bất cập trong QLNN đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa và chỉ ra đƣợc những nguyên nhân của các bất cập đó, nhƣ: bộ máy QLNN không theo kịp tốc độ đô thị hóa và sự gia tăng dân số; năng lực điều hành của cấp chính quyền thành phố; việc ban hành cơ chế, chính sách chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn đặt ra,… đây chính là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện các chính sách cho chính quyền cấp tỉnh, thành phố TTTW nâng cao hiệu quả và hiệu lực QLNN đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa. Trong công trình này, do tiếp cận ở góc độ kinh tế chính trị, tác giả đã phân tích sâu về những mối quan hệ cơ bản, đề xuất định hƣớng, quan điểm nhƣng chƣa đƣa ra đƣợc các chỉ tiêu đánh giá công tác QLNN đối với đất đai [7, tr62].

Nguyễn Thế Vinh (2012), “Hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền quận Tây Hồ”, luận án tiến sĩ kinh tế bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã phân tích khá đầy đủ cơ sở lý luận, nội dung QLNN đối với đất đai phù hợp với chức năng của chính quyền cấp quận trong hệ thống phân cấp quản lý. Theo tác giả, QLNN về đất đai của chính quyền quận, là sự phối hợp để thực hiện tốt các nhiệm vụ quản l đƣợc giao của chính quyền quận với các đơn vị khác thuộc hệ thống QLNN về đất đai đƣợc pháp luật quy định, nhằm mang lại môi trƣờng thuận lợi nhất cho ngƣời SDĐ trong việc thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với đất đai, đảm bảo đất đai đƣợc sử dụng hiệu quả cao cho các mục tiêu phát triển KT- XH vì con ngƣời, cộng đồng, xã hội cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng sống bền vững tại quận [22, tr54]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Xuân Phi (2011), “Quản lý nhà nước đối với quỹ đất thành phố Thanh Hóa”, (luận án tiến sĩ kinh tế) bảo vệ tại Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

Tác giả cho rằng, quỹ đất thành phố bao gồm: đất nằm trong ranh giới đô thị và đất nằm ngoài ranh giới đô thị nhƣng đã có quy hoạch đƣợc duyệt của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Trên cơ sở đó, tác giả đã xây dựng nội dung QLNN đối với quỹ đất thành phố trực thuộc tỉnh bao gồm 4 nội dung: quản lý hiện trạng và những biến động; phân phối và phân phối lại quỹ đất; thanh tra, kiểm tra; điều tiết nguồn lợi từ đất [13, tr54]. Các công trình nghiên cứu nói trên đề cập một cách hệ thống về quản lý đất đai cũng nhƣ đƣa ra đƣợc các giải pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả đất đai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Tuy nhiên, đề cập tới vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích thì có rất ít công trình đƣợc đề cập tới, cũng nhƣ chƣa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích ở một địa phƣơng cụ thể.

Chính vì l do đó, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý quỹ đất công ích trên địa bàn quận Long Biên” làm đề tài nghiên cứu của riêng mình. Cơ sở lý luận về quản lý quỹ đất công ích trên địa àn quận 1. Đất công ích: khái niệm, mục đích sử dụng và ý nghĩa kinh tế, xã hội 1. Khái niệm đất công ích Trong các quy định của pháp luật đất đai ở Việt Nam trƣớc đây và trong Luật Đất đai hiện hành không có một khái niệm cụ thể nào về đất công ích; nhƣng có thể rút ra từ các quy định đó một cách quan niệm, theo đó, đất công ích là diện tích đất thuộc sở hữu nhà nước mà mỗi xã, phường, thị trấn căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, được giữ lại không quá năm phần trăm 5%) trong tổng diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản của địa phương để th c hiện các mục đích công ích tại xã, phường, thị trấn thuộc địa phương đó.

8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ khái niệm trên có thể hiểu rằng, đất công ích thƣờng là loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp, đƣợc trích ra nhằm sử dụng vào mục đích công ích và chỉ đƣợc giữ lại trong giới hạn pháp luật cho phép là từ 5% hoặc ít hơn, so với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp có trong phạm vi địa bàn địa phƣơng. Nhóm đất nông nghiệp, theo quan niệm truyền thống của ngƣời Việt Nam, thƣờng đƣợc hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu. Tuy nhiên, việc sử dụng đất nông nghiệp trên thực tế không chỉ phục vụ gói gọn trong các hoạt động sản xuất đó, mà còn gắn với một số mục đích khác nhƣ phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và trồng các loại cây lâu năm và cả đất làm muối; tùy theo từng quy định, từng căn cứ khác nhau mà có sự phân loại đất khác nhau. Luật Đất đai năm 1987 căn cứ vào mục đích sử dụng đã phân đất đai thành năm loại: - Đất nông nghiệp; - Đất lâm nghiệp; - Đất khu dân cƣ; - Đất chuyên dùng; - Đất chƣa sử dụng.

Theo đó, đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp đƣợc tách riêng thành hai nhóm khác nhau, nên đất nông nghiệp chỉ bao gồm trồng cây ngắn ngày và nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản. Đất công ích trong giai đoạn này chƣa đƣợc khẳng định nhƣng nếu có tồn tại thì quỹ đất này về cơ bản không bao gồm đất trồng các loại cây lâu năm nhƣ trồng rừng mà đúng theo khái niệm chỉ đơn lẻ là loại đất nông nghiệp [14, tr201].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ