Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. - Chương 2: Thực trạng quản lý phổ cập giáo dục cho trẻ em 5 tuổi ở Thành phố Bắc Ninh trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra. - Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề Tư tưởng về xây dựng một nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại nhằm đảm bảo cho tất cả mọi người, nhất là thế hệ trẻ có một cơ hội học tập suốt đời, có điều kiện phát triển toàn diện đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề cập ngày từ những ngày đầu thành lập nước.
Qua các kỳ Đại hội của Đảng, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo được bổ sung và hoàn thiện. Đường lối chủ trương phổ cập giáo dục phổ thông đã được Đảng ta xây dựng từ Đại hội lần thứ II của Đảng (1960) và chính thức được thể chế hoá, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1960-1965). Nhiệm vụ mục tiêu cơ bản là thực hiện phổ cập vỡ lòng cho vùng đồng bằng (trẻ 6 tuổi) và hoàn thành xóa mù chữ cho miền núi , để tiến tới phổ cập cấp phổ thông. Đến năm 1986 dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, giáo dục cũng từng bước phát triển đáp ứng với yêu cầu của xã hội. Từ khi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đi vào cuộc sống, quy mô, mạng lưới giáo dục tiếp tục có bước phát triển. Chất lượng giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng.
Công tác quản lý giáo dục cũng có bước chuyển biến tích cực theo hướng tách quản lý Nhà nước với quản trị của các cơ sở giáo dục; công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục được cải thiện. Hoạt động xã hội hóa và huy động các nguồn lực của Nhà nước và xã hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn phục vụ hoạt động giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Mục tiêu phổ cập giáo dục đã được nhiều tỉnh, thành phố đặc biệt chú trọng. Cùng với các chính sách về giáo dục, như phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở, việc PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi đã chính thức được "luật hoá " ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây việc ̣quan tâm của Đảng và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi nói riêng, càng được thể hiện rõ nét như : Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đọan 2010- 2015; Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định hỗ trợ kinh phí đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với giáo viên mầm non có thời gian công tác từ năm 1995 nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưư trí; Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đọan 2011-2015. Mục đích của PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi là củng cố, mở rộng mạng lưới trường lớp, đảm bảo cho trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi được học 2 buổi trong ngày, được học chương trình giáo dục mầm non mới , chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1. Đồng thời , tuổi mầm non là thang bậc đầu tiên , làm nền móng cho những bậc thang tiếp theo của cuộc đời mỗi con người. Đó chính là lý do mà quyền học tập và phát triển của trẻ được quan tâm không chỉ của các bậc cha mẹ, của dân tộc, của một quốc gia, mà là mối quan tâm chung của toàn thế giới.
Trong Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của trẻ em , tại Điều 28 quy định: Trẻ em có quyền được học hành và tiếp thu một nền giáo dục tiến bộ. Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, từ ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án, đến cuối năm 2011, công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015 đã gặt hái được những thành công nhất định đối với nhiều địa phương trong cả nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Ở Việt Nam những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường đã được nhiều nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu như: Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục; Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục, Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2006), Lý luận đại cương về quản lý giáo dục … Những nghiên cứu của tác giả trên là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu về quản lý công tác phổ cập giáo dục. Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý phổ cập giáo dục nói chung và PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở nước ta nói riêng, hằng năm ngành giáo dục ở nước ta đều đã tổ chức các Hội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý.
Bên cạnh đó, ở một số cơ sở đào tạo thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục đã có một số luận văn về quản lý công tác phổ cập giáo dục cho học sinh các bậc học Tiểu học, Trung học cơ sở như: Luận văn của Nguyễn Sỹ Hiển, Phùng Thị Trâm, Tô Xuân Lợi. đi sâu nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý công tác phổ cập giáo dục cho học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở ở Hoà Bình, Hà Nội, Quảng Ninh. Qua nghiên cứu cho thấy, những nghiên cứu về phổ cập giáo dục cho học sinh còn ít, chưa hệ thống, nhất là ở lứa tuổi mầm non. Đặc biệt, thực tiễn giáo dục đang đặt ra yêu cầu đổi mới công tác quản lý nhằm duy trì chất lượng PCGD cho độ tuổi này.
Vì vậy, dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục và PCGD, kết quả các công trình nghiên về thực trạng quản lý công tác PCGD các bậc học ở nước ta, tác giả của luận văn có nhiệm vụ kế thừa và vận dụng để giải quyết được các mục tiêu đã đề ra của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm cho đến nay có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau.
Có thể dẫn ra một số cách hiểu như sau: Theo tác giả Harold Kontz: "quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích nhóm về thời gian, tiền bạc, sự bất mãn cá nhân ít nhất" [20].Taylor cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng , chính xác cái gì đó cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất. Còn theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức [1]. Theo tác giả Trần Quốc Thành: Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [30, tr. Trong giáo trình Khoa học quản lý (Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1999) định nghĩa: Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
Ngoài ra, người ta còn hiểu: Quản lý là việc thực hiện các mục đích của tổ chức một cách hiệu quả và đạt hiệu suất tốt, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức; Quản lý là quá trình tập hợp và sử dụng các nhóm nguồn lực theo định hướng mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ trong bối cảnh tổ chức. Tóm lại, hiểu một cách quát: Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục , có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất. Quản lý bao gồm các yếu tố: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn - Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một đối tượng bị quản lý. Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý.
Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. - Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng. Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động. Quản lý giáo dục Hiện nay ở nước ta các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất.
Hay quản lý giáo dục, quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có hệ thống, có mục đích, có kết quả) mang tính sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia mọi hoạt động của nhà trường, làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu đến việc hoàn thành các mục tiêu dự kiến.