Luận văn: Quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại TP. Bắc Ninh

Chuyên khảo giáo dục phân tích Quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn thành phố bắc ninh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Chuyên ngành

Quản lý Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Giả thuyết khoa học

0.6. Phạm vi nghiên cứu

0.7. Phương pháp nghiên cứu

0.8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

0.9. Cấu trúc luận văn

1. Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI

1.1. Khái quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý giáo dục

1.2.2. Quản lý nhà trường

1.3. Phổ cập giáo dục và phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi

1.4. Quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

1.5. Cơ sở lý luận và pháp lý cho hoạt động quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

1.5.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và quan điểm của Đảng ta về giáo dục và phổ cập giáo dục

1.5.2. Cơ sở pháp lý của công tác phổ cập giáo dục

1.6. Những vấn đề cơ bản trong quản lý giáo dục mầm non và phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

1.7. Nội dung yêu cầu của việc quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

1.8. Những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

1.9. Tiểu kết chương 1

2. Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH TRONG THỜI GIAN QUA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

2.1.1. Về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

2.1.2. Giới thiệu chung về giáo dục và đào tạo của thành phố Bắc Ninh

2.2. Thực trạng quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh trong thời gian qua

2.2.1. Thực trạng công tác quản lý, chỉ đạo phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

2.2.2. Những kết quả đã đạt được trong quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn Bắc Ninh trong thời gian qua

2.2.3. Một số vấn đề đặt ra trong quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh

2.3. Tiểu kết chương 2

3. Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG QUẢN LÝ PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH

3.1. Những căn cứ và nguyên tắc đề đề xuất biện pháp quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

3.1.1. Những căn cứ để đề xuất biện pháp quản lý Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

3.1.2. Những nguyên tắc để đề xuất biện pháp quản lý Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

3.2. Đổi mới công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho phụ huynh học sinh và cán bộ làm công tác phổ cập giáo dục

3.3. Thường xuyên đổi mới các biện pháp để duy trì sĩ số, nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non nhằm đảm bảo phổ cập giáo dục độ tuổi này bền vững

3.4. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa gia đình với nhà trường và xã hội trong việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non

3.5. Đầu tư và hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học phục vụ công tác phổ cập giáo dục mầm non

3.6. Đảm báo số định mức giáo viên trên lớp ; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên, đặc biệt là cán bộ tham gia quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

3.7. Làm rõ trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chức năng quản lý của Chính quyền đối với công tác phổ cập giáo dục

3.8. Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp

3.8.1. Khách thể khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi

3.8.2. Kết quả khảo nghiệm các biện pháp

3.9. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

0.1. Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh

0.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Ninh

0.3. Đối với Thành phố Bắc Ninh

0.4. Đối với các trường mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Ninh

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Phổ Cập Giáo Dục Mầm Non Bắc Ninh

Chăm lo phát triển giáo dục mầm non là trách nhiệm của toàn xã hội. Trẻ em được tiếp cận với giáo dục mầm non sớm giúp thúc đẩy quá trình học tập, phát triển về thể chất, nhân cách, trí tuệ. Giáo dục mầm non chưa thật sự được nhân dân xem trọng. Nhiều nơi trẻ không được đến lớp, trình độ của giáo viên mầm non chưa cao, chức năng trông trẻ vẫn là chủ yếu. Chính vì thế, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW (5/12/2011) về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Thành phố Bắc Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh là một địa phương giàu truyền thống, có vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội. Trong công cuộc đổi mới, Thành phố Bắc Ninh đã có bước phát triển khá, tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt khoảng 16%/năm. Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, giáo dục của Thành phố Bắc Ninh cũng có những bước phát triển nổi bật. Ngành giáo dục - đào tạo Thành phố luôn hoàn thành xuất sắc 10 chỉ tiêu do Bộ quy định và được đánh giá là đơn vị đứng thứ nhất tỉnh. Giáo dục mầm non Thành phố đã có nhiều chuyển biến rõ nét về quy mô phát triển mạng lưới trường lớp. Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trên địa bàn từng bước được nâng lên. Thành phố Bắc Ninh là một trong 02 đơn vị đầu tiên trong tỉnh đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2011. Tuy nhiên, cơ sở vật chất trường lớp, biên chế giáo viên còn thiếu và một số tiêu chí khác về chất lượng chưa cao nên việc duy trì kết quả đạt được trong thời gian tiếp theo còn nhiều khó khăn, thách thức. Vì những lý do trên, việc nghiên cứu về quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn thành phố Bắc Ninh là rất quan trọng.

1.1. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Phổ Cập Giáo Dục Mầm Non 5 Tuổi

Tư tưởng về xây dựng một nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại nhằm đảm bảo cho tất cả mọi người, nhất là thế hệ trẻ có một cơ hội học tập suốt đời, có điều kiện phát triển toàn diện đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề cập ngay từ những ngày đầu thành lập nước. Qua các kỳ Đại hội của Đảng, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo được bổ sung và hoàn thiện. Đường lối chủ trương phổ cập giáo dục phổ thông đã được Đảng ta xây dựng từ Đại hội lần thứ II của Đảng (1960). Cùng với các chính sách về giáo dục, như phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở, việc PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi đã chính thức được luật hóa ở Việt Nam. Trong những năm gần đây việc quan tâm của Đảng và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi nói riêng, càng được thể hiện rõ nét như : Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đọan 2010- 2015; Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời , tuổi mầm non là thang bậc đầu tiên , làm nền móng cho những bậc thang tiếp theo của cuộc đời mỗi con người .

1.2. Vai Trò Quan Trọng Của Giáo Dục Mầm Non Đối Với Trẻ 5 Tuổi

Mục đích của PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi là củng cố, mở rộng mạng lưới trường lớp, đảm bảo cho trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi được học 2 buổi trong ngày, được học chương trình giáo dục mầm non mới , chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1. Tuổi mầm non là thang bậc đầu tiên, làm nền móng cho những bậc thang tiếp theo của cuộc đời mỗi con người. Đó chính là lý do mà quyền học tập và phát triển của trẻ được quan tâm không chỉ của các bậc cha mẹ, của dân tộc, của một quốc gia, mà là mối quan tâm chung của toàn thế giới. Trong Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của trẻ em , tại Điều 28 quy định: Trẻ em có quyền được học hành và tiếp thu một nền giáo dục tiến bộ. Ở Việt Nam những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường đã được nhiều nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu như: Phạm Minh Hạc (1986), Nguyễn Ngọc Quang (1989), Trần Kiểm (2004), Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2006)…

II. Thách Thức Quản Lý Phổ Cập Mầm Non 5 Tuổi Tại Bắc Ninh

Mặc dù Thành phố Bắc Ninh đã đạt chuẩn PCGDMN vào năm 2011 cho trẻ em 5 tuổi, nhưng kết quả đạt được chưa thật vững chắc bởi tỷ lệ đạt chuẩn ở một số xã, phường còn thấp như: cơ sở vật chất, định mức giáo viên trên tổng số lớp chưa đủ theo quy định. Điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý phổ cập giáo dục bậc mầm non ở Thành phố Bắc Ninh. Mặt khác, hoạt động của Ban Chỉ đạo phổ cập giáo dục các cấp còn tập trung chủ yếu ở cơ quan thường trực , dẫn đến chất lượng phổ cập chưa cao . Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp , khả thi sẽ khắc phục được những khó khăn , hạn chế trên và duy trì bền vững kết quả PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi của Thành phố. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào công tác quản lý PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở các trường Mầm non trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh từ năm 2011 đến nay, với đối tượng điều tra là các cán bộ quản lý giáo dục của thành phố, của các trường Mầm non và một số cán bộ giáo viên.

2.1. Các Vấn Đề Tồn Tại Trong Quản Lý Giáo Dục Mầm Non

Hiện nay ở nước ta các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. Hay quản lý giáo dục, quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có hệ thống, có mục đích, có kết quả) mang tính sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia mọi hoạt động của nhà trường, làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu đến việc hoàn thành các mục tiêu dự kiến. Quản lý bao gồm các yếu tố: Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một đối tượng bị quản lý. Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý. Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng.

2.2. Thực Trạng Về Cơ Sở Vật Chất Và Đội Ngũ Giáo Viên

Tuy nhiên, cơ sở vật chất trường lớp, biên chế giáo viên trên tổng số lớp chưa đủ theo quy định và một số tiêu chí khác về chất lượng chưa cao nên việc duy trì kết quả đạt được trong thời gian tiếp theo về quản lý công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn Thành phố sẽ còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý phổ cập giáo dục nói chung và PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở nước ta nói riêng, hằng năm ngành giáo dục ở nước ta đều đã tổ chức các Hội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý. Những nghiên cứu về phổ cập giáo dục cho học sinh còn ít, chưa hệ thống, nhất là ở lứa tuổi mầm non. Đặc biệt, thực tiễn giáo dục đang đặt ra yêu cầu đổi mới công tác quản lý nhằm duy trì chất lượng PCGD cho độ tuổi này.

III. Giải Pháp Quản Lý Chất Lượng Phổ Cập Giáo Dục Mầm Non

Quản lý PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi là toàn bộ những hoạt động có ý thức của nhà quản lý giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu, tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quản lý nâng cao nhận thức của các lực lượng xã hội trong PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi. Quản lý phát huy tác dụng của việc PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở mọi địa phương, để trẻ em trong đúng độ tuổi đều được đến trường, được hưởng mọi quyền lợi như: vui chơi, học tập, chăm sóc về sức khỏe, phát triển đồng đều về thể lực, trí tuệ. Xây dựng và vận hành cơ chế quản lý phù hợp trong việc chỉ đạo công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi. Nhằm mục đích phổ biến, tuyên truyền hướng dẫn để giúp các lực lượng xã hội nắm được, hiểu được và thực hiện phát triển PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi trên tất cả các địa phương trong cả nước có hiệu quả.

3.1. Nâng Cao Nhận Thức Về Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Mầm Non

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và PCGD, Đảng ta qua nhiều kỳ Đại hội, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề xuất những quan điểm có tính chiến lược và đột phá về phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Phát triển nền giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Đảng và Nhà nước ta đã nhất quán coi trọng việc phát triển giáo dục qua nhiều chủ trương, chính sách lớn. Trong bối cảnh đó, kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện nay, về mặt phương pháp luận, chúng ta cần tiếp tục đổi mới tư duy về giáo dục theo hướng kiên định phát triển một nền giáo dục khoa học, dân tộc và đại chúng với những mục tiêu và điều kiện cụ thể của Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.Thứ nhất, nền giáo dục Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI phải phát triển theo hướng đáp ứng yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và mở rộng hội nhập quốc tế, tạo cơ hội và tiền đề cần thiết để phát triển con người toàn diện.

3.2. Đầu Tư Cơ Sở Vật Chất Và Phát Triển Đội Ngũ Giáo Viên

Phải thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa các hệ thống giáo dục và các phương thức giáo dục để hình thành một nền giáo dục đại chúng, ai cũng được học hành.Chưa bao giờ điều kiện quốc tế và trong nước lại thuận lợi cho việc phát triển các loại hình giáo dục đa dạng như hiện nay.Giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, nhưng phải có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Xã hội hiện nay, mỗi người dân đều có trách nhiệm đối với việc học tập của bản thân, nhưng phát triển nền giáo dục nước nhà phải là vấn đề của toàn xã hội, của những người làm công tác giáo dục, đặc biệt là các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục.Muốn thực hiện tốt và thành công công tác quản lý giáo dục cũng như quản lý PCGD, đặc biệt là quản lý PCGDMN đối với trẻ 5 tuổi, các nhà làm quản lý giáo dục cần phải nắm vững cơ sở lý luận và nội dung, yêu cầu nêu ra của các Chỉ thị liên quan tới công tác giáo dục ở Việt Nam.

IV. Thực Tiễn Quản Lý Giáo Dục Mầm Non Tại Thành Phố Bắc Ninh

Thành phố Bắc Ninh có 19 đơn vị xã, phường (13 phường: Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh, Suối Hoa, Ninh Xá, Tiền An, Đại Phúc, Vệ An, Vạn An, Hạp Lĩnh, Vân Dương, Kinh Bắc, Võ Cường và 06 xã: Kim Chân, Nam Sơn, Khắc Niệm, Hòa Long, Khúc Xuyên, Phong Khê). Thành phố Bắc Ninh đang quyết tâm phấn đấu cơ bản đạt các tiêu chí đô thị loại I vào năm 2015.Với chính sách thu hút phát triển công nghiệp, hiện trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh có 2 khu Công nghiệp lớn là Quế Võ và khu Công nghiệp đô thị Nam Sơn - Hạp Lĩnh và 04 khu Công nghiệp làng nghề: Võ Cường, Phong Khê, Khắc Niệm, Hạp Lĩnh với trên 350 doanh nghiệp đầu tư đi vào sản xuất và giải quyết việc làm cho khoảng 30.000 lao động.

4.1. Quy Mô Phát Triển Trường Lớp Mầm Non Tại Bắc Ninh

Trong những năm qua, ngành Giáo dục và đào tạo Thành phố Bắc Ninh được đánh giá là đơn vị lá cờ đầu của tỉnh. Trong đó có ba phường Tiền An, Ninh Xá và Vệ An được công nhận là đơn vị có phong trào giáo dục phát triển toàn diện. Quy mô trường, lớp phát triển, bao gồm 24 trường Mầm non, 22 trường Tiểu học, 19 trường Trung học cơ sở. Phổ cập giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở đạt kết quả ổn định, vững chắc. Công tác phổ cập trung học được triển khai tích cực trên địa bàn thành phố. Chất lượng giáo dục được nâng lên, số lượng học sinh giỏi ngày càng tăng, hàng năm có trên 500 học sinh đỗ vào các trường đại học nguyện vọng I hệ chính quy.

4.2. Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Và Cơ Sở Vật Chất Trường Học

Đội ngũ cán bộ giáo viên được quan tâm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ: 100% giáo viên đạt chuẩn, trình độ đạt trên chuẩn là hơn 80%. Hằng năm có trên 300 giáo viên của Thành phố Bắc Ninh được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp thành phố và cấp tỉnh. Cơ sở vật chất trang thiết bị trường học và ứng dụng công nghệ thông tin được tăng cường theo hướng chuẩn hoá và đồng bộ. Thành phố đã xây dựng được 46/65 trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I; có 7/22 trường Tiểu học, 3/24 trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ II và 25 trường được công nhận Trường học thân thiện, học sinh tích cực. Hằng năm có 15 trường học đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh.

V. Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Phổ Cập Giáo Dục Mầm Non

Cần có nhiều yếu tố tác động, trong đó có thể kể đến các nhân tố sau đây: Về chủ trương, chính sách: Đảng và Nhà nước ta cần ban hành các chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân, làm cho người dân nhận thức được rằng: PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi sẽ đem lại lợi ích to lớn cho chính họ. Về nguồn nhân lực: Các nhà quản lý giáo dục, thầy cô giáo mầm non, cha mẹ học sinh là những người sẽ đóng góp quan trọng cho việc triển khai công tác PCGDMN cho trẻ 5 tuổi. Về chế tài: Chế tài góp phần thành công cho công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi, vì vậy phải xây dựng bộ chế tài hợp lí để áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

5.1. Xây Dựng Chính Sách Hỗ Trợ Phát Triển Giáo Dục Mầm Non

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người 2003 - 2015” với mục tiêu đảm bảo tất cả trẻ em đều hoàn thành một năm giáo dục tiền học đường có chất lượng để chuẩn bị đi học tiểu học. Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 - 2015 nêu rõ: Nhà nước có trách nhiệm quản lý, tăng cường đầu tư cho giáo dục mầm non; hỗ trợ cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ nhà giáo; đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non.

5.2. Tăng Cường Cơ Sở Vật Chất Và Trang Thiết Bị Dạy Học

Địa phương nào có kinh tế phát triển, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học đảm bảo thì địa phương đó sẽ làm tốt công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi. Đây là một trong những công tác trọng tâm cho việc nâng cao chất lượng, là điều kiện cho sự thành công của việc PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi.Công tác quản lí được tổ chức, thực hiện nghiêm túc, khoa học, vai trò của lãnh đạo được phát huy thì công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi sẽ thành công. Muốn vậy, đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải có năng lực lãnh đạo, có trình độ, am hiểu về lĩnh vực giáo dục mầm non, yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà.

VI. Kết Luận Về Quản Lý Phổ Cập Giáo Dục Mầm Non

Trong chương 1, luận văn đã khái quát và làm rõ những khái niệm cơ bản như: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, phổ cập giáo dục, biện pháp quản lý. Ngoài ra, trong chương này còn luận giải cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của công tác PCGD nói chung và PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi nói riêng ở nước ta dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước .

6.1. Tóm Lược Các Vấn Đề Nghiên Cứu Về Giáo Dục Mầm Non

Để có cơ sở khảo sát , phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu , luận văn đã đi sâu phân tích nội dung , tính chất và xác định những tiêu chí đánh giá về PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở nước ta hiện nay. Trong chương 2, luận văn đã trình bày khái quát về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh và nêu ra thực trạng giáo dục của thành phố. Đồng thời đánh giá về công tác quản lý PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn thành phố Bắc Ninh trong thời gian qua và đưa ra những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết để công tác quản lý đạt kết quả cao hơn.

6.2. Khuyến Nghị Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non

Ở bậc học mầm non, việc PCGD cho trẻ em 5 tuổi là một sự chuẩn bị quan trọng cho trẻ tới trường đối với tất cả mọi vùng miền. Vì thế, việc quản lý công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở các địa phương cần phải được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả. Trong chương 3, luận văn sẽ tập trung vào đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác quản lý cũng như chất lượng dạy và học ở bậc mầm non, đặc biệt là công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở địa bàn Thành phố Bắc Ninh.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. - Chương 2: Thực trạng quản lý phổ cập giáo dục cho trẻ em 5 tuổi ở Thành phố Bắc Ninh trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra. - Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC PHỔ CẬP GIÁO DỤC MẦM NON CHO TRẺ EM 5 TUỔI 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề Tư tưởng về xây dựng một nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiên tiến, hiện đại nhằm đảm bảo cho tất cả mọi người, nhất là thế hệ trẻ có một cơ hội học tập suốt đời, có điều kiện phát triển toàn diện đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề cập ngày từ những ngày đầu thành lập nước.

Qua các kỳ Đại hội của Đảng, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo được bổ sung và hoàn thiện. Đường lối chủ trương phổ cập giáo dục phổ thông đã được Đảng ta xây dựng từ Đại hội lần thứ II của Đảng (1960) và chính thức được thể chế hoá, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1960-1965). Nhiệm vụ mục tiêu cơ bản là thực hiện phổ cập vỡ lòng cho vùng đồng bằng (trẻ 6 tuổi) và hoàn thành xóa mù chữ cho miền núi , để tiến tới phổ cập cấp phổ thông. Đến năm 1986 dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, giáo dục cũng từng bước phát triển đáp ứng với yêu cầu của xã hội. Từ khi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đi vào cuộc sống, quy mô, mạng lưới giáo dục tiếp tục có bước phát triển. Chất lượng giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng.

Công tác quản lý giáo dục cũng có bước chuyển biến tích cực theo hướng tách quản lý Nhà nước với quản trị của các cơ sở giáo dục; công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục được cải thiện. Hoạt động xã hội hóa và huy động các nguồn lực của Nhà nước và xã hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn phục vụ hoạt động giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực. Mục tiêu phổ cập giáo dục đã được nhiều tỉnh, thành phố đặc biệt chú trọng. Cùng với các chính sách về giáo dục, như phổ cập Tiểu học, Trung học cơ sở, việc PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi đã chính thức được "luật hoá " ở Việt Nam.

Trong những năm gần đây việc ̣quan tâm của Đảng và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi nói riêng, càng được thể hiện rõ nét như : Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đọan 2010- 2015; Quyết định số 45/2011/QĐ-TTg ngày 18/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định hỗ trợ kinh phí đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với giáo viên mầm non có thời gian công tác từ năm 1995 nhưng chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưư trí; Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số chính sách phát triển giáo dục mầm non giai đọan 2011-2015. Mục đích của PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi là củng cố, mở rộng mạng lưới trường lớp, đảm bảo cho trẻ em trong độ tuổi 5 tuổi được học 2 buổi trong ngày, được học chương trình giáo dục mầm non mới , chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ vào học lớp 1. Đồng thời , tuổi mầm non là thang bậc đầu tiên , làm nền móng cho những bậc thang tiếp theo của cuộc đời mỗi con người. Đó chính là lý do mà quyền học tập và phát triển của trẻ được quan tâm không chỉ của các bậc cha mẹ, của dân tộc, của một quốc gia, mà là mối quan tâm chung của toàn thế giới.

Trong Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của trẻ em , tại Điều 28 quy định: Trẻ em có quyền được học hành và tiếp thu một nền giáo dục tiến bộ. Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, từ ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án, đến cuối năm 2011, công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015 đã gặt hái được những thành công nhất định đối với nhiều địa phương trong cả nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn Ở Việt Nam những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường đã được nhiều nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu như: Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục; Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục, Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2006), Lý luận đại cương về quản lý giáo dục … Những nghiên cứu của tác giả trên là cơ sở lý luận quan trọng cho việc nghiên cứu về quản lý công tác phổ cập giáo dục. Để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý phổ cập giáo dục nói chung và PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi ở nước ta nói riêng, hằng năm ngành giáo dục ở nước ta đều đã tổ chức các Hội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý.

Bên cạnh đó, ở một số cơ sở đào tạo thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục đã có một số luận văn về quản lý công tác phổ cập giáo dục cho học sinh các bậc học Tiểu học, Trung học cơ sở như: Luận văn của Nguyễn Sỹ Hiển, Phùng Thị Trâm, Tô Xuân Lợi. đi sâu nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý công tác phổ cập giáo dục cho học sinh Tiểu học, Trung học cơ sở ở Hoà Bình, Hà Nội, Quảng Ninh. Qua nghiên cứu cho thấy, những nghiên cứu về phổ cập giáo dục cho học sinh còn ít, chưa hệ thống, nhất là ở lứa tuổi mầm non. Đặc biệt, thực tiễn giáo dục đang đặt ra yêu cầu đổi mới công tác quản lý nhằm duy trì chất lượng PCGD cho độ tuổi này.

Vì vậy, dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục và PCGD, kết quả các công trình nghiên về thực trạng quản lý công tác PCGD các bậc học ở nước ta, tác giả của luận văn có nhiệm vụ kế thừa và vận dụng để giải quyết được các mục tiêu đã đề ra của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm cho đến nay có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau.

Có thể dẫn ra một số cách hiểu như sau: Theo tác giả Harold Kontz: "quản lý là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích nhóm về thời gian, tiền bạc, sự bất mãn cá nhân ít nhất" [20].Taylor cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng , chính xác cái gì đó cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất. Còn theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, mọi hành động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức có sự điều khiển từ trung tâm, nhằm thực hiện mục tiêu chung của tổ chức [1]. Theo tác giả Trần Quốc Thành: Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan [30, tr. Trong giáo trình Khoa học quản lý (Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1999) định nghĩa: Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.

Ngoài ra, người ta còn hiểu: Quản lý là việc thực hiện các mục đích của tổ chức một cách hiệu quả và đạt hiệu suất tốt, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức; Quản lý là quá trình tập hợp và sử dụng các nhóm nguồn lực theo định hướng mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ trong bối cảnh tổ chức. Tóm lại, hiểu một cách quát: Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục , có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất. Quản lý bao gồm các yếu tố: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn - Phải có một chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một đối tượng bị quản lý. Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý.

Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. - Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng. Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động. Quản lý giáo dục Hiện nay ở nước ta các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất.

Hay quản lý giáo dục, quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có hệ thống, có mục đích, có kết quả) mang tính sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia mọi hoạt động của nhà trường, làm cho quá trình này vận hành một cách tối ưu đến việc hoàn thành các mục tiêu dự kiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ