Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý phát triển năng lực GVMG theo tiếp cận KNN Chương 2. Thực trạng quản lý phát triển năng lực GVMG theo tiếp cận KNN trong quá trình đào tạo và bồi dưỡng GVMG Chương 3. Các biện pháp quản lý phát triển năng lực GVMG theo tiếp cận KNN đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN và thực nghiệm kiểm chứng một số biện pháp quản lý đã đề xuất * Kết luận * Khuyến nghị * Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án * Tài liệu tham khảo * Phụ lục z 7 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIÁO VIÊN MẪU GIÁO THEO TIẾP CẬN KĨ NĂNG NGHỀ 1. Tổng quan những công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề năng lực, đặc biệt là năng lực sư phạm, được các nhà tâm lý học Xô viết nghiên cứu khá nhiều.Petrovxki coi NL là một thành tố cấu tạo nên nhân cách. NL luôn gắn liền với những yêu cầu đặt ra của một hoạt động nhất định.
Đối với mỗi công việc, bên cạnh NL chung, NL cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, đều đòi hỏi ở mỗi cá nhân thực hiện nhiệm vụ có những NL riêng, mang tính đặc thù, gắn liền với yêu cầu riêng của một hoạt động xác định.Petrovxki nghiên cứu năng lực sư phạm và cho rằng NLSP là một tổ hợp xác định các phẩm chất tâm lý của nhân cách, những phẩm chất này là điều kiện để đạt được kết quả cao trong việc dạy học và giáo dục trẻ em. Ông cho rằng sự phát triển của các NLSP gắn liền một cách hữu cơ với việc nắm các KN, kĩ xảo sư phạm, với tư cách là những cấu thành nhân cách đảm bảo cho hoạt động của người GV thu được kết quả. Dựa trên kết quả nghiên cứu HĐ dạy học ở người giáo viên, ông đã phân chia NLSP của họ thành các nhóm: nhóm NL dạy học, nhóm NL thiết kế, nhóm NL tri giác, nhóm NL truyền đạt, nhóm NL giao tiếp, nhóm NL tổ chức. Các NL này không chỉ là điều kiện để hoạt động sư phạm đạt được hiệu quả cao mà còn là kết quả của HĐ đó [48].
Tuy nhiên, cách phân chia của Petrovski chưa thật sự thuyết phục bởi lẽ ngay trong nhóm NL dạy học đã bao hàm NL thiết kế, tổ chức, giao tiếp.Gônôbôlin cho rằng, NL là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó, mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao. Như vậy, NL khác với tri thức, KN, kĩ xảo, khác với kinh nghiệm, cũng như trình độ đào tạo. Điều đó được thể hiện mặc dầu cũng có những điều kiện giống nhau (về trình độ đào tạo, kiến thức, kinh nghiệm, KN, kĩ xảo, sức khoẻ và thời gian), nhưng người có NL bao giờ cũng có kết quả tốt hơn, nhiều hơn trong một loại hoạt động nhất định. Tuy nhiên, ta z 8 cũng phải hiểu, giữa NL, kiến thức, KN, kĩ xảo, kinh nghiệm có mối liên quan mật thiết với nhau, có sự tác động qua lại với nhau và hỗ trợ nhau.
Khác với KN, kĩ xảo được hình thành qua quá trình luyện tập và học tập, NL được xuất hiện và phát triển trong quá trình hoạt động. Để bồi dưỡng NL còn cần phải có tư chất. Thực vậy, tâm lý học đã chỉ ra rằng, chỉ có tư chất là bẩm sinh, còn NL được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động. NL gắn liền với tri thức và KN của con người.
Con người càng hiểu biết sâu một lĩnh vực nào đó thì NL của họ về mặt này càng phát triển nhanh. NL cá nhân về một loại hoạt động nào đó bao giờ cũng là tổ hợp những thuộc tính nhân cách. Một vài thuộc tính riêng lẻ dù có xuất sắc đến đâu chăng nữa cũng không gọi là NL được. Để làm tốt một nghề nghiệp nào đó, con người cần phải có NL.
Để làm tốt nghề sư phạm, người làm nghề sư phạm phải có NL sư phạm. NL nghề nghiệp của cá nhân là điều kiện, phương tiện để hiện thực hoá xu hướng nghề nghiệp. Năng lực sư phạm của người giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy học với chất lượng cao. NL được bộc lộ trong hoạt động và gắn với một số KN tương ứng.
Như vậy, để đào tạo NLSP cho SV cần rèn luyện những KN giáo dục, dạy học cần thiết. NLSP cũng như mọi NL khác chỉ tồn tại trong sự vận động, phát triển, chúng không thể nẩy nở ngoài sự HĐ và phụ thuộc vào tính chất của HĐ đó.Gônôbôlin cho rằng một người GV công tác có kết quả cần phải có các NL sau: NL truyền đạt tài liệu học tập cho trẻ một cách dễ hiểu, NL hiểu học sinh, NL thu hút học sinh, NL thuyết phục mọi người, NL tổ chức (bao gồm các KN lãnh đạo tập thể lớp, hướng dẫn đúng đắn việc học tập,.), NL ứng xử sư phạm, NL dự đoán trước các tình huống và kết quả công tác của mình, NL sáng tạo trong công tác, NL nắm vững tài liệu giảng dạy [21]. Cách phân loại của Gônôbôlin như trên được coi là tương đối đầy đủ, tuy nhiên ông chưa đề cập đến một vài NL khác như NL quan sát, NL chế biến tài liệu học tập. Một số nhà tâm lý học khác ở Nga cho rằng, NL là những đặc trưng cá nhân của con người và được thể hiện trong hoạt động, là điều kiện để hoạt động có kết quả.
Tốc độ, chiều sâu, sự dễ dàng của việc nắm vững các tri thức, KN, kĩ xảo phụ z 9 thuộc vào NL, nhưng bản thân NL không dẫn đến kết quả của quá trình nắm vững tri thức, KN, kĩ xảo đó. Các nhà tâm lý học Nga đã nêu một số dấu hiệu của sự thể hiện NL đối với một hoạt động nào đó. Những dấu hiệu đó là: - Tốc độ cao của việc nắm bắt các hoạt động tương ứng; - Độ rộng của sự di chuyển kĩ năng, thể hiện ở việc người học sau khi học cách thực hiện hành động trong một tình huống thì người đó dễ dàng áp dụng chúng trong những tình huống tương tự; - Sự tiết kiệm năng lượng trong khi hoạt động; - Biểu hiện đặc điểm cá nhân của việc hoàn thành hoạt động; - Động cơ cao đối với hoạt động này, đôi khi bất chấp hoàn cảnh. Theo quan điểm của Templov B.
và các cộng sự, chỉ có những đặc điểm về giải phẫu - sinh lý và các đặc điểm về hoạt động chức năng của con người là bẩm sinh, chúng là tiền đề của sự phát triển NL và các tiền đề ấy được gọi là tư chất. Trong sự phát triển của NL, tư chất chỉ như điểm khởi đầu. NL được phát triển trên nền tảng của tư chất, được chế định bởi tư chất, nhưng không được xác định trước bởi nó [81]. Về sự hình thành và phát triển NL, các nhà tâm lý học Macxit cho rằng NL là những hiện tượng tâm lý được hình thành và phát triển trong hoạt động đầy sáng tạo của cá nhân.
NL - đó là hiện tượng tâm lý điều khiển được và phải được điều khiển dưới tác dụng chủ đạo của nhà giáo dục, của con người. NL của con người, dù ở bước đầu của quá trình phát triển hay đã đạt đến mức độ thiên tài, bao giờ cũng là kết quả của những HĐ đúng hướng và sáng tạo của cá nhân trong một xã hội nhất định và trong một điều kiện lịch sử cụ thể. Điều kiện chung nhất và cơ bản nhất của sự hình thành và phát triển NL là sự lĩnh hội nền văn hoá vật chất và tinh thần của nhân loại. Quá trình lĩnh hội đó tất yếu phải thông qua HĐ của cá nhân với tư cách là chủ thể của các mối liên hệ xã hội.
Trong quá trình hoạt động nhằm chiếm lĩnh nền văn hoá đó, con người nhận thức được những thuộc tính của vật chất, những hiện tượng của thế giới xung quanh, hiểu được phẩm chất nhân cách của cá nhân, đồng thời thấy được trình độ và khả năng của mình, từ đó nỗ lực phát huy hoặc bổ sung những phẩm chất và NL của bản thân nhằm đáp ứng yêu cầu của HĐ. Do vậy, HĐ phải được coi là z 10 nguồn gốc và nhân tố cơ bản nhất của sự hình thành và phát triển NL của cá nhân thông qua hoạt động “không điều khiển”, NL cũng có thể phát triển được một cách tự phát, song nhiều khi phải đi đường vòng, tốn nhiều công sức. Chỉ có HĐ dạy học và giáo dục, hoạt động “điều khiển được” mới tác động mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển NL của cá nhân. Theo tài liệu của Sở Giáo dục công cộng bang New Mexico (Mĩ), NL của người giáo viên được chia thành 3 nhóm: - Nhóm A (các NL hướng dẫn) gồm có NL giải thích chính xác kiến thức thuộc các lĩnh vực nội dung và chương trình hiện hành, NL sử dụng một cách hợp lý các phương pháp và các nguồn tài liệu đối với mỗi nội dung giảng dạy, NL sử dụng một cách hiệu quả kĩ thuật và quy trình đánh giá sinh viên.
- Nhóm B (các NL làm việc với SV) gồm có NL giao tiếp với SV và nhận được thông tin phản hồi từ họ để trên cơ sở đó nâng cao kiến thức và sự hiểu biết của SV, NL hiểu thấu đáo các nguyên tắc về sự phát triển, sự học tập của SV và áp dụng chúng một cách thích hợp, NL quản lý quá trình giảng dạy để làm tăng lên những hành vi tích cực của SV và môi trường tâm lý thân thiện, an toàn, NL nhận biết được sự khác biệt của SV và tạo ra bầu không khí tâm lý thuận lợi cho việc thúc đẩy sự tham gia tích cực của SV. - Nhóm C (các NL nghiên cứu nghề nghiệp) gồm có NL sẵn sàng đối với sự kiểm nghiệm và áp dụng những thay đổi, NL làm việc với đồng nghiệp, với phụ huynh. Đối với mỗi NL, người ta chia ra 3 cấp độ thể hiện và đã mô tả các tiêu chí tương ứng với mỗi cấp độ.