CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi bồi dưỡng giáo viên là vấn đề cơ bản phát triển trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động phù hợp với sự phát triển của KT-XH là phương châm hành động của các cấp quản lý giáo dục. Tại Thái Lan, từ những năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên phổ thông được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.
Triều Tiên là một trong những nước có chính sách thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Tất cả giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn theo quy định. Nhà nước đã đưa ra hai chương trình lớn được thực thi hiệu quả trong thập kỷ vừa qua. Đó là "Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới" để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và "Chương trình trao đổi" để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước ngoài [40].
Ở Việt Nam, từ năm 1986, cả nước bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức coi trọng phát triển giáo dục nhằm tạo động lực phát triển KT-XH. Bắt đầu từ đây, việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên đã có những chuyển biến tích cực, đội ngũ dần dần được chuẩn hóa mặc dù nguồn ngân sách giáo dục còn hạn hẹp. Hai chu kỳ bồi dưỡng thường xuyên 1992-1996 và 1997-2000, bồi dưỡng thay sách, các hội thi giáo viên dạy giỏi được tổ chức ở các địa phương, khu vực, quốc gia đã cho phép đúc rút được kinh nghiệm bổ ích về hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên phổ 5 z thông nói chung và đội ngũ giáo viên THCS nói riêng; đồng thời bộc lộ nhiều bất cập về nội dung bồi dưỡng, chương trình, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất tài liệu, thời gian,. trong đó đã cho thấy những hạn chế trong công tác quản lý của các cấp dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng chưa cao, chưa đáp ứng sự phát triển của giáo dục.
Những năm qua, các cấp QLGD và các nhà khoa học cũng đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến công tác xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, giáo viên và giáo viên cao cấp ở trường phổ thông, đề xuất những giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, trong đó có các đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành QLGD: Lê Thanh Đạm (2009) "Biện pháp phát triển cán bộ quản lý các trường THCS huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục"[24]; Vũ Ba Lê (2012) "Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên cốt cán ở các trường THPT huyện Ba Vì thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục"[32]; Nguyễn Văn Khung (2012) "Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Trung học cơ sở huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay"[35]; Trần Ngọc Thủy (2013) "Phát triển đội ngũ giáo viên trường THCS ở quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng theo chuẩn nghề nghiệp"[39]. Các công trình nghiên cứu trên đây cơ bản giải quyết những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về xây dựng và phát triển đội ngũ CBQL, giáo viên trường phổ thông ở một số địa phương. Tuy nhiên, vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS trên địa bàn cấp huyện nói chung còn ít được quan tâm và cho đến nay chưa có tác giả nào đề cập nghiên cứu quản lý phát triển đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở huyện Điện Biên Đông tỉnh Điện Biên. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ khi xã hội loài người hình thành các tổ chức như một nhu cầu tất yếu khách quan. Đến nay, Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ xã hội. Luận văn này tác giả sử dụng định nghĩa của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khi cho rằng “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [36, 37] và quan điểm của tác giả Đặng Quốc Bảo khi cho rằng “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [1,2]. Các chức năng cơ bản của quản lý là những chức năng đặc thù gắn liền với hoạt động quản lý của các chủ thể quản lý (các nhà lãnh đạo, quản lý).
Có nhiều quan điểm phân định các chức năng cơ bản của quản lý. Henri Fayol [41] đưa ra 5 chức năng: kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo; ra lệnh (hay chỉ huy); phối hợp và kiểm tra. Tại Hội nghị của UNESCO (tổ chức tại BangKok, năm 1982). Tại Việt Nam, đa số nhà nghiên cứu và nhà quản lý thống nhất nêu lên 4 chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
- Chức năng kế hoạch (kế hoạch hóa): là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các biện pháp tốt nhất để đạt các mục tiêu đó. Nội dung thực hiện chức năng kế hoạch: phân tích bối cảnh, xác định mục tiêu phát triển tổ chức; lập các kế hoạch thực hiện mục tiêu; triển khai thực hiện kế hoạch; đánh giá, điều chỉnh kế hoạch (nếu cần). - Chức năng tổ chức: là quá trình tiếp nhận, phân phối, sắp xếp các nguồn lực tạo ra một cơ cấu tổ chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra để tổ chức phát triển. Nội dung chức năng tổ chức bao gồm: xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và năng động, phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ; xây 7 z dựng, phát triển đội ngũ đảm bảo yêu cầu của tổ chức; xác lập mối quan hệ và cơ chế hoạt động; tổ chức công việc khoa học.
- Chức năng chỉ đạo: là quá trình tác động, ảnh hưởng tới hành vi thái độ của cấp dưới thông qua các hoạt động hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Nội dung chức năng chỉ đạo: thực hiện quyền chỉ huy, giao việc và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ; đôn đốc, động viên, kích thích tạo động lực làm việc cho nhân viên; giám sát, sửa chữa đảm bảo các hoạt động đúng hướng, bám sát yêu cầu thực thi kế hoạch của tổ chức; xây dựng môi trường thúc đẩy các hoạt động phát triển. - Chức năng kiểm tra: là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích những cái tốt, phát hiện những sai phạm, điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý lên một trình độ cao hơn. Nội dung thực hiện chức năng kiểm tra: xác định các tiêu chuẩn để đánh giá; đánh giá kết quả thực tế: thu thập thông tin về đối tượng được kiểm tra; so sánh kết quả đo đạc thực tế với chuẩn để phát hiện mức độ thực hiện tốt, vừa, xấu của các đối tượng quản lý; điều chỉnh.
Bao gồm: tư vấn (uốn nắn, sửa chữa); thúc đẩy (phát huy thành tích tốt); hoặc xử lý. Quản lý giáo dục QLGD được hiểu là quá trình thực hiện các chức năng quản lý trong lĩnh vực giáo dục nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục. Đó là “Hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ là thực hiện quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến” [1]. Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia ra hai cấp độ QLGD, đó là: 8 z - Quản lý hệ thống giáo dục: là QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm vi hệ thống giáo dục quốc dân (toàn quốc) hoặc trên địa bàn lãnh thổ tỉnh, thành phố thuộc trung ương, hoặc địa bàn cấp huyện, quận.
Ở các cấp độ này, QLGD gắn với chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và được hiểu là “sự tác động tự giác của công tác QLGD đến các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm huy động, tổ chức, điều phối, giám sát. một cách có hiệu quả các nguồn giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT- XH” [1]. - Quản lý các cơ sở giáo dục (nhà trường): là QLGD ở tầm vi mô trong phạm vi một đơn vị, một cơ sở giáo dục. Ở cấp độ này, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các nguồn lực xã hội trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Trong luận văn này, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên của một huyện nên thuộc phạm vi QLGD cấp độ vĩ mô (QLGD trên địa bàn huyện). Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên 1. Đội ngũ giáo viên - Đội ngũ. Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong tổ chức [42].
Đội ngũ của một tổ chức chính là nguồn nhân lực trong tổ chức đó. Chính vì vậy, các đặc trưng cơ bản về phát triển đội ngũ gắn liền với đặc trưng phát triển tổ chức nói chung và đặc trưng của công tác cán bộ nói riêng. Theo lý thuyết phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ của một tổ chức cũng chính là nguồn nhân lực trong tổ chức đó. Nói đến đội ngũ là nói đến số lượng, cơ cấu, trình độ, phẩm chất và năng lực của cả một tập thể (hay gọi là tiềm năng lao động của một tổ chức).