Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỂ QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA LỒNG GHÉP VÀO CÁC MÔN HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong những năm gần đây, ở các quốc gia trên thế giới, giáo dục KNS cho HS được quan tâm khi xây dựng chương trình giáo dục cho riêng mình.
Giáo dục KNS vào nhà trường bằng nhiều hình thức giáo dục khác nhau lồng ghép vào các môn học chủ đề nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế. Quan niệm kĩ năng sống được hiểu rộng nhất là quan niệm do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) đưa ra, dựa trên cơ sở là 4 mục tiêu cơ bản của việc học: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để cùng chung sống. Dựa vào đó, UNESCO định nghĩa “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”. Theo quan niệm này, KNS được phân loại thành: Các kĩ năng cơ bản: kĩ năng đọc, viết, tính toán cho các chức năng hàng ngày.
Những kĩ năng này không mang đặc trưng tâm lí nhưng là nền tảng cho những năng lực thực hiện các chức năng của cuộc sống. Các kĩ năng chung (kĩ năng nhận thức, kĩ năng cảm xúc, kĩ năng xã hội) như các kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng giao tiếp… Các kĩ năng trong tình huống, ngữ cảnh, vấn đề cụ thể của đời sống xã hội, như: các vấn đề về giới, giới tính; các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc lá…; các vấn đề về môi trường, phòng chống bạo lực…; các vấn đề về gia đình, trường học…; các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng. Mỗi cá nhân cần phải có cả 3 thành tố này trong sự thống nhất, tính chỉnh thể của chúng. 7 Quan niệm kĩ năng sống được hiểu theo nghĩa hẹp hơn là quan niệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra, dựa trên lí thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm.
Theo đó, WHO định nghĩa “KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của cá nhân có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.Theo quan niệm này, các KNS được phân loại thành 3 nhóm: - Nhóm các kĩ năng nhận thức: kĩ năng tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề… - Nhóm các kĩ năng xã hội: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng cảm thông, kĩ năng hợp tác… Nhóm các kĩ năng cảm xúc: kĩ năng ứng phó với cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc… - Theo Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF),“KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống”. Với quan niệm này, KNS được phân loại thành 3 nhóm: kĩ năng xã hội, kĩ năng phát triển nhận thức và kĩ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân, cụ thể như sau : Nhóm kĩ năng xã hội: Kĩ năng giao tiếp đó là truyền thông bằng lời và không bằng lời, lắng nghe tích cực, biểu lộ cảm xúc, phản hồi và kĩ năng quan hệ, tương tác liên nhân cách; kĩ năng đàm phán, thương lượng, từ chối đó là thương lượng và xử lí mâu thuẫn, kĩ năng tự khẳng định kĩ năng từ chối; kĩ năng quan hệ xã hội; kĩ năng làm việc nhóm/hợp tác; kĩ năng thấu cảm; kĩ năng động viên (advoccacy skills) đó là kĩ năng ảnh hưởng và thuyết phục và kĩ năng tạo mạng lưới và động viên. Nhóm kĩ năng phát triển nhận thức: Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề đó là kĩ năng thu thập thông tin, đánh giá hệ quả tương lai của những hành động 8 hiện tại đối với bản thân và người khác, xác định các giải pháp khác nhau cho vấn đề và kĩ năng phân tích ảnh hưởng của các giá trị, thái độ, động cơ của bản thân và người khác; kĩ năng suy nghĩ có phán đoán và kĩ năng tư duy sáng tạo Nhóm kĩ năng đối phó với cảm xúc và làm chủ bản thân: Kĩ năng quản lí căng thẳng đó là quản lí thời gian, tư duy tích cực, kĩthuật thư giãn; kĩ năng quản lí cảm xúc đó là làm chủ sự tức giận, xử lí những đau buồn và lo âu và đối phó với những sự mất mát, lạm dụng, chấn thương; kĩ năng tự điều chỉnh (tự ý thức, tự chủ) là ý thức về giá trị bản thân/ Kĩ năng xây dựng sự tự tin và ý thức về bản thân, bao gồm ý thức về quyền, ảnh hưởng, giá trị, thái độ, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân. Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác của nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu khác trên thế giới, chẳng hạn như tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc) lại phân loại KNS thành 3 dạng: Kĩ năng sống để phát triển cá nhân, kĩ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác và kĩ năng công nghệ thông tin (theo đề nghị của các đại diện trẻ tại một hội nghị) (Bùi Văn Trực, Phạm Thế Hưng, 2012).
Từ những quan niệm này có thể thấy KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người. Tuy có sự khác biệt về quan niệm về KNS nhưng các tổ chức UNESCO, WHO và UNICEF đã thống nhất 10 kĩ năng sống cơ bản, được xem như cần thiết nhất cho tất cả mọi người. Đó là kĩ năng ra quyết định; kĩ năng giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy sáng tạo; kĩ năng tư duy phê phán / suy nghĩ có phán đoán; kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ; kĩ năng giao tiếp giữa người và người; kĩ năng tự nhận thức bản thân; khả năng thấu cảm; kĩ năng kiểm soát cảm xúc và kĩ năng ứng phó với stress. Hiện nay đã có trên 155 nước và vùng lãnh thổ quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 quốc gia đã đưa vào chương trình chính khoá ở bậc Tiểu học và trung học.
Việc giáo dục KNS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức: KNS là một môn học riêng biệt, KNS được tích hợp vào một vài môn học chính và KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình. Các nghiên cứu ở trong nước Thuật ngữ “kĩ năng sống” bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam từ những năm 1995 - 1996, thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo và Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay nhiều cơ quan tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với các vấn đề xã hội. Giáo dục phổ thông nước ta những năm qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận KNS, đó là Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống.Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung chương trình giáo dục KNS ngày càng được quan tâm nhiều tại Việt nam bởi chính phủ và các bộ, ngành liên quan theo xu thế phát triển giáo dục chung của thế giới. Các chủ trương, chính sách về giáo dục có liên quan giáo dục KNS cho HS được ban hành.
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. luật Giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho HS sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn (Nguyễn Hữu Dũng, 1995).
10 Giáo dục KNS cho HS với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011). Từ năm học 2002-2003 Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông trong cả nước. Trong chương trình Tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục KNS thông qua lồng ghép một số môn học như: giáo dục Đạo đức, Tự nhiên Xã hội (ở lớp 1,2,3), khoa học (ở lớp 4,5). Năm 2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chỉ thị số 40/CT- BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát động phong trào thi đua và kế hoạch số 307/KH-BGD&ĐT ngày 22/07/2008 Về kế hoạch triển khai “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013 trong đó xác định giáo dục KNS cho HS là một trong năm nội dung cơ bản của phong trào thi đua này.