Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý nợ thuế Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế tại Chi cục Thuế huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1. Tổng quan về nợ thuế 1. Khái niệm Thuế ra đời là tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Khi Nhà nước xuất hiện, để đảm bảo sự tồn tại và hoạt động của mình, Nhà nước phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần của cải trong xã hội vào tay nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.
Việc huy động, tập trung của cải đó có thể được thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế. Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau đề cập đến thuế và các vấn đề liên quan đến thuế. Theo các nhà kinh điển, “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”. Nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế.
Theo Gaston Jeze, “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước”. Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường 6 quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước”. [30] Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. [30] Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo Luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.
[30] Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: Thuế là biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước. [30] Tại Việt Nam, thuế là khái niệm đã được đề cập nhiều trong các văn bản pháp luật, cụ thể là các văn bản luật về thuế và được định nghĩa: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.
[16] Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về thuế nhưng tựu chung lại, thuế có 04 đặc điểm cơ bản sau: - Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền. - Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực: Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà 7 nước. Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế.
Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện. - Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Trái ngược với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp. - Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Trong quá trình quản lý thuế, việc xảy ra nợ thuế là điều không thể tránh khỏi, đó có thể là do bản thân pháp luật thuế cho phép người nộp thuế được nợ thuế trong những thời gian nhất định như gia hạn nộp thuế, giãn hoãn thời hạn nộp thuế cũng có thể do nhiều nguyên nhân khác, cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, mà người nộp thuế chưa nộp số thuế phải nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Điều này đặt ra đòi hỏi, để đảm bảo thu đủ số thuế phải nộp của người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước thì phải làm tốt công tác quản lý nợ thuế. Một số khái niệm khác: Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN. [25] Người nợ thuế là người nộp thuế có khoản tiền thuế nợ theo quy định.
[25] 8 Tiền chậm nộp là khoản tiền được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ. Đặc điểm của nợ thuế Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến Như chúng ta đã biết, thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc, mà người có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước. Rõ ràng, nghĩa vụ nộp thuế luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế. Vì thế, ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới, người nộp thuế luôn có xu hướng trốn hoặc tránh thuế.
Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốt đẹp và lợi ích của nghĩa vụ nộp thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế, chưa h trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế. Tình trạng trốn thuế, gian lận về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thu cho ngân sách Nhà nước, vừa không đảm bảo công bằng xã hội. Hay nói cách khác người nộp thuế tìm mọi cách để tối thiểu hoá số thuế mà họ phải nộp. Một trong những cách phổ biến mà người nộp thuế lựa chọn là tìm cách nợ thuế.
Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Quy phạm pháp luật về thuế bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN. Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước. Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: Mức nộp thuế, đối tượng nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế. 9 Như vậy, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của Pháp luật.
Quy định mức xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp tiền thuế (nay gọi là tiền chậm nộp). Tại Khoản 3, Điều 3 Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế TTĐB và Luật Quản lý thuế , tiền chậm nộp được tính như sau: Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/7/2016 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp. Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016 vẫn chưa nộp thì tính như sau: - Trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 (số ngày chậm nộp từ 90 ngày trở xuống là 0,05%, từ ngày 91 trở đi là 0,07%/ngày) - Từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13 (0,05%/ngày.) - Từ ngày 01/7/2016 tính tiền chậm nộp theo mức 0,03%/ngày. Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN.
Còn nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật. Nợ thuế có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. - Về chủ quan: Do người nộp thuế cố tình vi phạm nhằm chậm nộp tiền thuế vào NSNN để lợi dụng số tiền thuế sử dụng cho mục đích khác. - Về khách quan: Do có khó khăn về sản xuất kinh doanh hoặc thu nhập, 10 chẳng hạn như khủng hoảng kinh tế, lạm phát mà NNT tạm thời thiếu tiền nộp thuế.
Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế Tránh thuế là hành vi lợi dụng những sơ hở của pháp luật để giảm được một phần nghĩa vụ phải nộp.