CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THU GOM CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với thu gom chất thải rắn sinh hoạt 1. Chất thải rắn 1. Khái niệm Chất thải rắn bao gồm tất cả các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa (Nguyễn Văn Phước, 2008).
Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Chất thải rắn là chất thải ở dạng rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại (Chính phủ, 2007 và 2015).
Phân loại chất thải rắn CTR có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: + Phân loại dựa vào nguốn gốc phát sinh: CTR sinh hoạt, văn phòng, thương mại, công nghiệp, đường phố, chất thải rắn trong quá trình xây dựng hay đập phá nhà xưởng. + Phân loại dựa vào đặc tính tự nhiên: như các chất hữu cơ, vô cơ, chất có thể cháy hoặc không có khả năng cháy. Chất thải rắn sinh hoạt 1. Khái niệm Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt (Chính phủ, 2007 và 2015).
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn được thải hoặc sinh ra từ sinh hoạt cá nhân, các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư, .), khu thương mại và dịch vụ (cửa hàng, chợ, siêu thị, quán ăn, nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ,.), khu cơ quan (trường học, viện và trung tâm nghiên cứu, các cơ quan hành chánh Nhà nước, văn phòng công ty,.), từ các hoạt động dịch vụ công cộng (quét dọn và vệ sinh đường phố, công viên, khu giải trí, tỉa cây xanh,.), từ sinh hoạt (ăn uống, vệ sinh, .) của các khoa, bệnh viện không lây nhiễm, từ sinh hoạt của cán bộ, công nhân trong các cơ sở công nghiệp (khu công nghiệp, nhà máy, cơ sở sản xuất vừa và nhỏ). Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, giấy vụn, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, giấy, rơm, rạ, vỏ rau. Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt + Thành phần vật lý: Chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị là vật phế thải trong sinh hoạt và sản xuất nên đó là một hỗn hợp phức tạp của nhiều vật chất khác nhau.
Để xác định được thành phần của CTRSH một cách chính xác là một việc làm rất khó vì thành phần của rác thải phụ thuộc rất nhiều vào tập quán cuộc sống, mức sống của người dân, mức độ tiện nghi của đời sống con người, theo mùa trong năm,…Thành phần CTR sinh hoạt có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lựa chọn các thiết bị xử lý, công nghệ xử lý cũng như 7 hoạch định các chương trình quản lý đối với hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn. Đối với nước ta do khí hậu nóng ẩm nên độ ẩm của CTR rất cao, thành phần rất phức tạp và chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy do đó tỷ trọng của rác khá cao. Tỷ trọng của CTR được xác định: Tỷ trọng = (khối lượng cân CTR)/(thể tích chứa khối lượng CTR cân bằng), kg/m3. + Thành phần hóa học: của CTR đô thị bao gồm chất hữu cơ (dao động trong khoảng 40 - 60%), chất tro, hàm lượng carbon cố định (hàm lượng này thường chiếm khoảng 5 - 12%).
Các chất vô cơ chiếm khoảng 15 - 30%. Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt được phát sinh từ những nơi có sự hiện diện của con người: khu dân cư, công sở, doanh nghiệp, khu thương mại, khu vui chơi, ….1: Nguồn phát sinh CTRSH Nguồn phát Nơi phát sinh Loại chất thải rắn sinh Các hộ gia đình,các biệt Thực phẩm dư thừa, giấy, can Khu dân cư thự và các căn hộ chung nhựa, thủy tinh, can thiếc, cư nhôm. Nhà kho, nhà hàng, Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, Khu thương chợ, khách sạn, nhà trọ, thủy tinh, kim loại, chất thải mại các trạm sữa chữa và nguy hại. Trường học, bệnh viện, Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, Cơ quan, công văn phòng cơ quan thủy tinh, kim loại, chất thải sở chính phủ nguy hại 8 Khu nhà xây dựng mới, Công trình sữa chữa, nâng cấp, ở Gạch, bê tông, thép, gỗ, thạch xây dựng và rộng đường phố, cao cao, bụi,.
phá hủy ốc, sang nền xây dựng Hoạt động dọn rác vệ Rác vườn, cành cây cắt tỉa, sinh đương phố, công Dịch vụ đô thị chất thải chung tại các khu vui viên, khu vui chơi giải chơi, giải trí. trí, bãi tắm Nhà máy xử lý nước Nhà máy xử lý cấp, nước thải và các Bùn, tro chất thải quá trình xử lý chất thải công nghiệp khác Công nghiệp xây dựng Chất thải từ quá trình sản xuất chế tạo, công nghiệp Công nghiệp công nghiệp, phế liệu và các nặng, nhẹ, lọc dầu, hóa rác thải sinh hoạt chất, nhiệt điện Đồng cỏ, đồng ruộng, Thực phẩm bị thối rữa, sản Nông nghiệp vườn cây ăn quả, nông phẩm nông nghiệp thừa, rác, trại chất độc hại Nguồn: Nguyễn Văn Phước, 2008 Việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt phải được quản lý, giám sát, tuyên truyền và vận động tổ chức, cá nhân, hộ gia đình chấp hành theo quy định, bảo đảm yêu cầu thuận lợi cho thu gom, vận chuyển và xử lý. Quản lý nhà nước về thu gom chất thải rắn sinh hoạt 1. Khái niệm Quản lý chất thải rắn trong sinh hoạt là một nội dung quan trọng được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu; Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
9 Quản lý nhà nước về thu gom CTR sinh hoạt được hiểu là sự tác động của các chủ thể có quyền lực nhà nước bằng pháp luật đến các đối tượng được quản lý nhằm thực hiện các chức năng về bảo vệ môi trường. Chủ thể của hoạt động quản lý nhà nước gồm: cơ quan nhà nước, cá nhân được ủy quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước về thu gom CTR sinh hoạt là một trong những ưu tiên của công tác bảo vệ môi trường, góp phần kiểm soát ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững. Phải lấy phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh và phân loại chất thải tại nguồn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải xử lý.
Quản lý chất thải rắn là trách nhiệm chung của cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương và đơn vị trực tiếp thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư cho công tác quản lý chất thải rắn. Quản lý chất thải rắn không khép kín theo địa giới hành chính, đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường, tuân thủ nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và phải gắn với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Quy trình thu gom chất thải rắn sinh hoạt 10 Nguồn phát sinh chất thải Gom, nhặt, tách và lưu giữ tại nguồn Thu gom Trung chuyển Tách, xử lý và vận chuyển và tái chế Tiêu hủy Hình 1. Hợp phần chức năng của hệ thống quản lý CTR (Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, 2001) 1.
Sự cần thiết của quản lý nhà nước về thu gom chất thải rắn sinh hoạt Quản lý thu gom CTRSH là quá trình sẽ giúp việc thu nhặt CTR từ các nhà dân, khu dịch vụ kinh doanh, sản xuất, công sở hay từ những điểm thu gom tập trung, đưa lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển tiếp, trạm trung chuyển hay chôn lấp. Bao gồm thu gom sơ cấp và thứ cấp: - Thu gom sơ cấp (thu gom ban đầu) là cách mà theo đó CTR được thu gom từ nguồn phát sinh ra nó (nhà ở hay các cơ sở thương mại) và chở đến các bãi chứa chung, các địa điểm hoặc bãi chuyển tiếp. - Thu gom thứ cấp (thu gom tập trung) bao hàm không chỉ việc gom nhặt CTR từ các nguồn khác nhau mà còn cả việc chuyên chở các chất thải đó tới địa điểm tiêu hủy. Việc dở đổ các xe CTR cũng được xem như một phần của hoạt động thu gom thứ cấp (Trần Hiếu Nhuệ, 2001).
Để quản lý CTR sinh hoạt cần nắm vững những lĩnh vực liên quan như: 11 Tác động của CTR đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, sự sản sinh ra CTR ở các xã hội công nghiệp, sự tăng trưởng về số lượng, biến đổi về thành phần, các dự đoán, cơ hội và những thách thức của việc quản lý CTR trong tương lai 1. Nội dung của quản lý nhà nước về thu gom chất thải rắn sinh hoạt a. Quản lý công tác tuyên truyền, phổ biến quy định về thu gom CTR sinh hoạt Cần xây dựng mạng lưới tuyên truyền giáo dục môi trường vì nhận thức của cộng đồng là công cụ hàng đầu để thực hiện BVMT. Đối tượng giáo dục gồm những người dân sinh sống trên địa bàn.