Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm ngành nông nghiệp và phát triển nông nghiệp 1. Khái niệm Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là một hệ thống sinh học - kỹ thuật. Một mặt, cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo những quy luật sinh học nhất định, trong đó con người không thể ngăn cản quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn những quy luật để có những giải pháp thích hợp với chúng. Mặt khác, quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng.
Phát triển nông nghiệp là quá trình thay đổi nền nông nghiệp ở giai đoạn sau so với giai đoạn trước và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất. Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (khối lượng sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn chủng loại và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu xã hội về nông nghiệp. Trước hết, phát triển nông nghiệp là một quá trình, chịu sự tác động của quy luật thị trường, chính sách, ứng xử của người sản xuất, người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực nông nghiệp. Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp.
Tăng trưởng trong nông nghiệp thể hiện tại một thời điểm có nhiều đầu ra so với giai đoạn trước, chủ yếu phản ánh sự thay đổi về kinh tế và tập trung 6 nhiều mặt lượng. Tăng trưởng nông nghiệp thường được đo bằng mức thu nhập quốc dân, mức tăng về sản lượng và sản phẩm nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp thể hiện cả về lượng và chất. Phát triển nông nghiệp không những bao hàm cả tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền nông nghiệp, sự thích ứng của nông nghiệp với hoàn cảnh mới, sự tham gia của người dân trong quản lý và sử dụng nguồn lực, sự phân bố của cải và tài nguyên của các nhóm dân cư trong nội bộ ngành nông nghiệp trong nội bộ nông nghiệp và giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế.
Phát triển nông nghiệp còn bao hàm cả kinh tế, xã hội, tổ chức, thể chế và môi trường. Vậy, Phát triển nông nghiệp là các hoạt động và chiến lược nhằm nâng cao hiệu suất, hiệu quả, và bền vững của ngành nông nghiệp. Điều này bao gồm sự cải thiện về cả mặt kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường. Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp Có nhiều ý kiến thống nhất cho rằng: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực theo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách, nghệ thuật và các công cụ của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Tuy nhiên, đến nay vẫn có nhiều cách hiểu về quản lý nhà nước với những cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cận từ sự ra đời của nhà nước và quá trình lao động, khái niệm quản lý được hiểu “là một phạm trù xuất hiện trước khi có nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời lao động và bản thân quản lý cũng là một loại lao động” Từ cách tiếp cận hệ thống thì quản lý nhà nước: “.là hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ cơ quan quyền lực Nhà nước: Quốc hội và Hội đồng 7 nhân dân các cấp, các cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, Ủy ban hành chính nhà nước, cơ quan kiểm soát: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân các cấp”. Theo đó, quan niệm này cho rằng quản lý nhà nước đã bao hàm cả bộ máy lập pháp, bộ máy hành pháp cũng như cơ quan tư pháp.
Một cách tiếp cận khác cho rằng, quản lý nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước: Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng ban chuyên môn. Từ việc tìm hiểu trên đây, luận văn cho rằng: "Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm đạt các mục tiêu các chủ thể quản lý thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc quản lý nhà nước trên cơ sở pháp luật. Quản lý nhà nước phải luôn luôn gắn với những mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ cụ thể". Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp là hoạt động sắp xếp,tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của hệ thống cơ quan nhà nước tại địa bàn một huyện cụ thể cụ thể đối với một lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế-kỹ thuật, chuyên môn của ngành nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài huyện nhằm đạt mục tiêu xác định hiệu quả nhất.
(Nguyễn Cao Chương, 2012) Vậy, Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp bao gồm các hoạt động và chính sách mà chính phủ và các cơ quan liên quan thực hiện để thúc đẩy, quản lý và điều hành việc phát triển ngành nông nghiệp trong một quốc gia. Chức năng quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp Một là định hướng chiến lược cho sự phát triển nông nghiệp cho phù hợp từng giai đoạn phát triển của kinh tế đất nước. Nông nghiệp là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, có vai trò nhiều mặt về kinh tế và xã hội của đất nước. Việc đảm bảo sự 8 phát triển hài hoà cân đối của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân đòi hỏi phải xác định chiến lược phát triển của ngành phù hợp với chiến lược phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Trên cơ sở xác định chiến lược phát triển, Nhà nước cụ thể hoá thành các chương trình, các kế hoạch định hướng phát triển trung hạn và ngắn hạn hàng năm để hướng dẫn sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. các chiến lược và kế hoạch phát triển nói trên được xây dựng cụ thể cho toàn bộ nền nông-lâm-ngư nghiệp ở từng cấp trong bộ máy quản lý nhà nước. Chiến lược phát triển nông nghiệp ở nước ta từ nay đến năm 2010 được Đại hội Đảng IX (4/2001) nêu ra chủ yếu gồm: Chiến lược dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Chiến lược phát triển các vùng kinh tế; Chiến lược phát triển khoa học công nghệ; Chiến lược sản xuất và xuất khẩu,… Hai là điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ nông nghiệp, nông thôn và giữa nông nghiệp, nông thôn và các thành phần kinh tế còn lại Trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá dựa trên trình độ xã hội hoá sản xuất hàng hoá ngày càng cao, các mối quan hệ kinh tế trong nội bộ nông nghiệp nông thôn cũng như giữa nông nghiệp nông thôn với phần còn lại của nền kinh tế, thậm chí với nền kinh tế khu vực và quốc tế, ngày càng phát triển rộng rãi và đa dạng. Sự hình thành và phát triển các mối quan hệ kinh tế đó có thể là phù hợp với mục tiêu của sự phát triển, lại cũng có thể không phù hợp và thậm chí xa lạ với bản chất kinh tế xã hội tốt đẹp của đất nước.
Trong điều kiện như vậy, Nhà nước phải thực hiện chức năng điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế bằng các biện pháp khuyến khích, hạn chế hoặc cấm đoán. Các mối quan hệ kinh tế mà Nhà nước cần điều chỉnh có nhiều loại. Có loại liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng các tài nguyên, nguồn lực như: Đất đai nguồn lực vốn góp cổ phần. Nhà nước cần điều chỉnh bằng luật sao cho sự phát triển đa dạng hoá sở hữu ở mức độ phù hợp.
Có loại quan hệ gắn liền với hoạt động sản xuất như quan hệ hợp tác sản xuất, liên kết sản xuất - chế biến - tiêu 9 thụ. dưới những hình thức đa dạng khác nhau, Nhà nước cần điều chỉnh bằng cách giúp đỡ, tạo môi trường thuận lợi để các quan hệ này phát triển một cách tối ưu, hiệu quả. Có loại quan hệ liên quan đến lĩnh vực ăn chia phân phối, Nhà nước cần hướng dẫn để các quan hệ này được thực hiện một cách công bằng,. Ba là hỗ trợ giúp đỡ kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã dịch vụ và các loại hình tổ chức sản xuất khác trong nông nghiệp.
Chuyển sang kinh tế thị trường, ở nước ta kể từ tháng 4/1988 hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, kinh tế trang trại dần hình thành và phát triển.Với việc xác định lại vai trò của hộ kinh tế như vậy, hợp tác dần dần đổi mới để chuyển sang dịch vụ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại. Trong một số doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất và chế biến thuộc sở hữu, Nhà nước thực hiện đổi mới bằng cách từng bước chuyển sang công ty cổ phần. Có thể nói việc thay đổi cách thức làm kinh tế cho phù hợp với những yêu cầu của cơ chế mới, trong nền nông nghiệp nước ta đã và đang hình thành những loại hình doanh nhân hoàn toàn mới. Đối với họ mặc dù đã Chuyển sang kinh tế thị trường, ở nước ta kể từ tháng 4/1988 hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, kinh tế trang trại dần hình thành và phát triển.Với việc xác định lại vai trò của hộ kinh tế như vậy, hợp tác dần dần đổi mới để chuyển sang dịch vụ cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại.
Trong một số doanh nghiệp nông nghiệp sản xuất và chế biến thuộc sở hữu, Nhà nước thực hiện đổi mới bằng cách từng bước chuyển sang công ty cổ phần.