Luận văn: Quản lý Nguồn Nhân Lực Tổ Chức Đoàn tại Sóc Sơn, Hà Nội

Luận văn thạc sĩ quản lý nguồn nhân lực tổ chức Đoàn Thanh niên huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Phân tích thực trạng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Vai trò Quản lý nguồn nhân lực Đoàn Thanh niên Sóc Sơn

Quản lý nguồn nhân lực (QLNNL) là yếu tố nền tảng quyết định sự thành công của mọi tổ chức, từ doanh nghiệp đến các đơn vị chính trị - xã hội. Đối với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Sóc Sơn, công tác này mang một vai trò chiến lược, không chỉ đảm bảo hiệu quả hoạt động mà còn góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận cho hệ thống chính trị. Khác với các tổ chức khác, nguồn nhân lực trong tổ chức Đoàn có đặc thù riêng biệt, nổi bật là sự biến động liên tục do quy định về độ tuổi. Điều này đòi hỏi một phương pháp quản lý linh hoạt, khoa học và có tầm nhìn dài hạn.

Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của công tác cán bộ Đoàn càng trở nên quan trọng. Một hệ thống QLNNL hiệu quả giúp khai thác tối đa tiềm năng của con người, gắn kết mục tiêu cá nhân với mục tiêu chung của tổ chức. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Trà Liên khẳng định: “Trong tất cả các nhiệm vụ chính trị của quản trị, quản trị con người là nhiệm vụ trung tâm và quan trọng nhất vì tất cả các vấn đề khác đều phụ thuộc vào mức độ thành công của quản trị con người”. Điều này cho thấy, chất lượng phong trào thanh thiếu nhi tại Sóc Sơn phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở. Việc xây dựng một quy trình quản lý bài bản, từ khâu hoạch định, tuyển dụng, đào tạo đến đánh giá và đãi ngộ, chính là chìa khóa để Huyện đoàn Sóc Sơn phát huy vai trò xung kích, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quản lý tốt nguồn nhân lực không chỉ tạo ra một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, vững vàng về chính trị mà còn xây dựng môi trường làm việc nhân văn, nơi mỗi cá nhân được tôn trọng và có cơ hội phát triển toàn diện.

1.1. Khái niệm và nội dung quản lý nhân lực tổ chức Đoàn

Về cơ bản, Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Đoàn là tổng hợp các hoạt động từ hoạch định, tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Nội dung của hoạt động này bao gồm nhiều khâu then chốt: phân tích và thiết kế công việc; lập kế hoạch nhân lực; tuyển dụng và bố trí nhân sự; đào tạo và phát triển; đánh giá hiệu quả công việc; xây dựng chính sách đãi ngộ và phúc lợi. Mỗi khâu đều có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một quy trình khép kín để đảm bảo tổ chức luôn có đủ nhân lực với chất lượng phù hợp, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chính trị được giao.

1.2. Đặc điểm nguồn nhân lực Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Sóc Sơn

Nguồn nhân lực của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có hai đặc điểm cơ bản. Thứ nhất là sự không ổn định, thể hiện qua sự biến động thường xuyên về nhiệm vụ và con người do bị khống chế về độ tuổi công tác. Đặc điểm này gây khó khăn lớn cho việc lập kế hoạch nhân sự dài hạn. Thứ hai là những khó khăn đặc thù trong quá trình vận hành, chủ yếu do sự ràng buộc của hệ thống chính sách chung. Các quy định mang tính hành chính, đôi khi cứng nhắc, đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc ra quyết định về nhân sự, đòi hỏi phải có sự thay đổi trong tư duy từ quản lý nhân sự sang quản lý nguồn nhân lực hiện đại, đặt con người vào đúng vị trí tương ứng với năng lực và động cơ làm việc.

II. Thách thức trong quản lý nhân lực Đoàn Sóc Sơn là gì

Công tác quản lý nguồn nhân lực Đoàn Thanh niên Sóc Sơn đang đối mặt với nhiều thách thức và bất cập đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động và sự phát triển bền vững của tổ chức. Một trong những vấn đề nổi cộm là sự thiếu khoa học trong quy trình tuyển chọn và sử dụng cán bộ. Luận văn chỉ rõ: “việc sử dụng cán bộ còn nặng về tình cảm, nhìn nhận cán bộ còn phiến diện”. Tình trạng này dẫn đến việc lựa chọn nhân sự chưa thực sự dựa trên năng lực và yêu cầu công việc, làm giảm hiệu quả công tác. Thêm vào đó, việc tuyển dụng không yêu cầu chuyên môn cụ thể nhưng khi cán bộ hết tuổi Đoàn, việc sắp xếp vị trí mới lại phụ thuộc vào chuyên môn đã tạo ra một “điểm nghẽn” lớn, gây tâm lý bất an và khó khăn cho đầu ra của đội ngũ cán bộ Đoàn.

Một thách thức khác đến từ các chính sách và cơ chế đãi ngộ chưa thực sự phù hợp. Môi trường làm việc và điều kiện phát triển cho cán bộ Đoàn cấp cơ sở còn nhiều hạn chế. Các chính sách đãi ngộ, khen thưởng chưa đủ sức thu hút và giữ chân những người tài năng, tâm huyết. Công việc của cán bộ Đoàn thường xuyên bị xem là “bộ phận phục vụ”, phải đảm nhận nhiều công việc vụn vặt, không thuộc chức năng, gây lãng phí thời gian và làm giảm động lực cống hiến. Những hạn chế này không chỉ làm suy yếu chất lượng đội ngũ cán bộ hiện tại mà còn ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai, đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt để khắc phục.

2.1. Bất cập trong quy trình tuyển chọn và sử dụng cán bộ

Quy trình tuyển dụng cán bộ Đoàn cấp xã, thị trấn tại Sóc Sơn chủ yếu thông qua bầu cử thay vì thi tuyển chuyên nghiệp. Mặc dù đảm bảo tính dân chủ, quy trình này trên thực tế còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoài chuyên môn như mối quan hệ, tư tưởng cục bộ. Điều này dẫn đến việc bỏ phiếu đôi khi chỉ mang tính hình thức, chất lượng cán bộ ở một số đơn vị chưa đáp ứng tiêu chuẩn. Việc sử dụng cán bộ cũng tồn tại hạn chế khi chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, khiến cán bộ Đoàn phải kiêm nhiệm nhiều việc không tên, làm giảm hiệu suất và tính chuyên nghiệp trong công tác.

2.2. Hạn chế về chính sách đãi ngộ và môi trường phát triển

Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Đoàn chưa đủ sức tạo động lực. Mức phụ cấp còn thấp, các chế độ khen thưởng, phúc lợi chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt ở cấp cơ sở. Điều này phần nào được luận văn đề cập qua bài học kinh nghiệm từ huyện Đông Anh, nơi có chính sách đãi ngộ tốt hơn nhờ công tác xã hội hóa. Hơn nữa, môi trường phát triển cho cán bộ chưa thực sự bền vững. Lộ trình công danh sau khi hết tuổi Đoàn chưa rõ ràng là một rào cản lớn, làm giảm sự an tâm và cống hiến lâu dài của đội ngũ cán bộ trẻ.

III. Phương pháp quy hoạch và tuyển dụng cán bộ Đoàn Sóc Sơn

Để nâng cao chất lượng quản lý nguồn nhân lực Đoàn Thanh niên Sóc Sơn, việc đổi mới công tác quy hoạch và tuyển dụng cán bộ là nhiệm vụ cấp bách. Quy hoạch cán bộ phải đi trước một bước, mang tính chiến lược và khoa học thay vì mang tính đối phó, bị động như thực trạng hiện nay. Cần xây dựng một quy trình kế hoạch hóa nguồn nhân lực bài bản, bắt đầu từ việc phân tích công việc, xác định rõ tiêu chuẩn cho từng chức danh, từ đó dự báo nhu cầu nhân sự trong tương lai. Công tác quy hoạch không chỉ dừng lại ở việc lập danh sách mà phải gắn liền với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển để chuẩn bị sẵn sàng đội ngũ kế cận có chất lượng. Thay vì chờ đến khi cán bộ quá tuổi mới tìm người thay thế, Huyện đoàn Sóc Sơn cần chủ động tạo nguồn từ sớm, phát hiện các nhân tố tích cực trong phong trào thanh niên để đưa vào diện quy hoạch.

Song song với quy hoạch, quy trình tuyển dụng nhân lực cần được cải tiến theo hướng khách quan và công bằng hơn. Mặc dù đặc thù của tổ chức Đoàn là thông qua bầu cử, cần tăng cường vai trò định hướng, giám sát của cấp ủy và Đoàn cấp trên để đảm bảo nhân sự được giới thiệu phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực. Cần giảm thiểu sự tác động của các yếu tố tiêu cực như quan hệ cá nhân hay tư tưởng cục bộ. Quá trình tuyển chọn cần có các bước đánh giá năng lực cụ thể hơn, có thể thông qua các bài kiểm tra, phỏng vấn hoặc đánh giá dựa trên kết quả công việc thực tế. Việc này giúp lựa chọn được những cán bộ Đoàn “đúng người đúng việc”, thực sự có tâm và có tầm, góp phần xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh từ cơ sở.

3.1. Đổi mới công tác kế hoạch hóa nguồn nhân lực cán bộ

Công tác kế hoạch hóa nguồn nhân lực cần được thực hiện một cách chủ động. Điều này đòi hỏi Huyện đoàn phải thường xuyên rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ hiện có, dự báo nhu cầu nhân sự cho từng giai đoạn và xây dựng kế hoạch tạo nguồn kế cận. Cần có sự phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng cơ sở trong việc phát hiện, bồi dưỡng các đoàn viên ưu tú, có tố chất để đưa vào quy hoạch. Kế hoạch phải cụ thể, rõ ràng về số lượng, cơ cấu và lộ trình phát triển cho từng cá nhân trong diện quy hoạch, tránh tình trạng bị động khi có sự biến động về nhân sự.

3.2. Cải tiến quy trình tuyển dụng và bố trí nhân sự Đoàn

Quá trình tuyển dụng cán bộ Đoàn cần đảm bảo tính công khai, minh bạch và dân chủ nhưng vẫn phải đề cao tiêu chuẩn năng lực. Thay vì chỉ dựa vào bầu cử, có thể áp dụng thêm các hình thức sát hạch để đánh giá toàn diện ứng viên. Cấp ủy và Đoàn cấp trên cần thực hiện tốt vai trò thẩm định, giới thiệu nhân sự, đảm bảo người được chọn có đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng công tác thanh vận. Việc bố trí nhân sự sau tuyển dụng cũng cần dựa trên năng lực và sở trường của từng cá nhân để phát huy tối đa hiệu quả công việc.

IV. Bí quyết đào tạo và đánh giá nguồn nhân lực Đoàn hiệu quả

Đào tạo và đánh giá là hai trụ cột quan trọng trong quản lý nguồn nhân lực, quyết định trực tiếp đến sự phát triển năng lực của đội ngũ cán bộ Đoàn. Để công tác này thực sự hiệu quả, Huyện đoàn Sóc Sơn cần đẩy mạnh đổi mới toàn diện cả về nội dung và phương pháp. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng không nên chỉ dừng lại ở các lớp tập huấn định kỳ với nội dung mang tính lý thuyết, chung chung. Thay vào đó, cần xây dựng các chương trình đào tạo sát với thực tiễn, xuất phát từ chính nhu cầu của cán bộ và yêu cầu của công việc. Nội dung cần tập trung vào các kỹ năng thiết yếu như tổ chức hoạt động, kỹ năng giao tiếp, quản lý dự án, và đặc biệt là kiến thức về quản lý nhà nước, lý luận chính trị.

Bên cạnh đào tạo, việc đổi mới công tác đánh giá cán bộ là một yêu cầu bức thiết. Hệ thống đánh giá cần được xây dựng dựa trên các tiêu chí rõ ràng, khoa học và có thể đo lường được, thay vì đánh giá cảm tính. Nội dung đánh giá cần toàn diện, bao gồm cả việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức và tiềm năng phát triển. Theo luận văn, cần “Đổi mới công tác đánh giá cán bộ Đoàn theo tiêu chí phù hợp với yêu cầu mới”. Kết quả đánh giá phải được sử dụng một cách công khai, minh bạch, làm cơ sở cho việc quy hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng và kỷ luật. Một quy trình đánh giá khách quan không chỉ giúp nhận diện đúng năng lực của cán bộ mà còn tạo ra động lực để mỗi cá nhân không ngừng phấn đấu, hoàn thiện bản thân, góp phần nâng cao chất lượng tổng thể của nguồn nhân lực Đoàn Thanh niên Sóc Sơn.

4.1. Nâng cao hiệu quả đào tạo bồi dưỡng và luân chuyển

Công tác đào tạo và bồi dưỡng cần đa dạng hóa hình thức, từ các lớp tập huấn tập trung, hội thảo chuyên đề đến việc cử cán bộ đi học các lớp lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ. Nội dung đào tạo phải được cập nhật thường xuyên để bắt kịp xu thế và giải quyết các vấn đề thực tiễn tại cơ sở. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ. Việc luân chuyển giữa các khối, các địa bàn khác nhau là môi trường rèn luyện thực tế tốt nhất, giúp cán bộ tích lũy kinh nghiệm, phát triển tư duy toàn diện và trưởng thành nhanh chóng.

4.2. Xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ Đoàn khách quan

Cần xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá cán bộ Đoàn cụ thể, phù hợp với từng vị trí công tác. Các tiêu chí này phải lượng hóa được mức độ hoàn thành công việc, hiệu quả của các phong trào, khả năng tập hợp thanh niên, và sự tín nhiệm của đoàn viên. Quy trình đánh giá cần có sự tham gia của nhiều bên: cấp trên trực tiếp, cấp ủy cùng cấp, và ý kiến từ đoàn viên, thanh niên. Kết quả đánh giá phải là căn cứ chính để thực hiện các chính sách cán bộ, đảm bảo sự công bằng và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

V. Thực trạng quản lý cán bộ Đoàn Thanh niên Sóc Sơn 2008 2014

Giai đoạn 2008-2014 là một chặng đường quan trọng trong quá trình phát triển của Huyện đoàn Sóc Sơn. Việc phân tích thực trạng quản lý nguồn nhân lực trong thời kỳ này cung cấp một cái nhìn sâu sắc về những điểm mạnh và hạn chế cần khắc phục. Về cơ cấu tổ chức, Huyện đoàn quản lý 60 cơ sở Đoàn trực thuộc, trong đó khối xã - thị trấn chiếm 26 đơn vị, là lực lượng nòng cốt. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở còn nhiều điểm chưa đồng đều. Dữ liệu từ luận văn của Nguyễn Thị Trà Liên cho thấy một thực tế đáng chú ý về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị.

Theo Bảng 3.2: “Cơ cấu trình độ của cán bộ Đoàn khối xã, thị trấn huyện Sóc Sơn”, trong tổng số 122 Ủy viên Ban Thường vụ, chỉ có 34 người (khoảng 28%) có trình độ Đại học, còn lại là Cao đẳng, Trung cấp hoặc Sơ cấp. Về trình độ lý luận chính trị, đa số cán bộ chỉ ở mức Sơ cấp và Trung cấp. Điều này phản ánh một hạn chế lớn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, ảnh hưởng đến năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Một vấn đề khác là công tác luân chuyển. Bảng 3.3 cho thấy trong giai đoạn 2010-2014, tình hình luân chuyển Bí thư Đoàn cấp xã có nhiều biến động nhưng chưa thực sự tạo ra sự đột phá về chất lượng. Những con số này là minh chứng rõ ràng cho các thách thức đã nêu, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

5.1. Phân tích cơ cấu và trình độ cán bộ Đoàn cấp cơ sở

Cơ cấu cán bộ Đoàn cấp cơ sở tại Sóc Sơn còn bộc lộ sự thiếu hụt về trình độ. Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và cao cấp lý luận chính trị còn thấp. Cụ thể, trong số các Ủy viên Ban Chấp hành và Bí thư chi đoàn, phần lớn có trình độ chuyên môn từ Trung cấp trở xuống và trình độ lý luận chính trị ở mức Sơ cấp. Sự chênh lệch về trình độ giữa các cán bộ chủ chốt và cán bộ cấp chi đoàn cũng khá lớn. Thực trạng này cho thấy công tác quy hoạch cán bộ chưa gắn liền với yêu cầu nâng cao trình độ toàn diện cho đội ngũ.

5.2. Đánh giá tình hình luân chuyển cán bộ giai đoạn 2010 2014

Theo số liệu thống kê, giai đoạn 2010-2014 chứng kiến sự luân chuyển cán bộ diễn ra ở nhiều đơn vị cấp xã. Tuy nhiên, việc luân chuyển đôi khi còn mang tính giải quyết tình thế, chưa nằm trong một kế hoạch tổng thể, dài hạn. Một số cán bộ được luân chuyển sang các vị trí khác nhưng chưa phát huy tốt vai trò do không phù hợp với chuyên môn hoặc môi trường mới. Việc đánh giá hiệu quả sau luân chuyển chưa được thực hiện thường xuyên, làm giảm ý nghĩa của công tác này trong việc rèn luyện và phát triển cán bộ.

VI. Giải pháp nâng cao quản lý nhân sự Đoàn Thanh niên Sóc Sơn

Để hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực Đoàn Thanh niên Sóc Sơn, cần triển khai một hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi, tập trung vào các khâu yếu và những vấn đề cốt lõi. Trước hết, cần nâng cao nhận thức của toàn bộ hệ thống chính trị, từ cấp ủy đến mỗi cán bộ Đoàn, về vai trò chiến lược của công tác cán bộ trong tình hình mới. Đây là nền tảng tư tưởng để thúc đẩy các hoạt động đổi mới một cách quyết liệt và hiệu quả. Tiếp theo, giải pháp trọng tâm là “Đổi mới công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ”, đảm bảo tính khoa học, dân chủ và có tầm nhìn xa, gắn quy hoạch với đào tạo và sử dụng.

Luận văn của Nguyễn Thị Trà Liên đã đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản. Trong đó, việc “Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ Đoàn” được xem là khâu đột phá. Cần xây dựng các chương trình đào tạo theo chức danh, cập nhật kiến thức mới và kỹ năng thực tiễn. Song song đó, cần “Tạo môi trường, điều kiện để đội ngũ cán bộ Đoàn cấp cơ sở phát triển bền vững”. Điều này bao gồm việc cải thiện chính sách đãi ngộ, xây dựng lộ trình phát triển rõ ràng cho cán bộ sau khi hết tuổi Đoàn, và tạo một môi trường làm việc dân chủ, đoàn kết. Cuối cùng, cần có những kiến nghị cụ thể tới các cấp có thẩm quyền, từ Trung ương Đoàn đến Thành ủy và Huyện ủy Sóc Sơn, để có những cơ chế, chính sách đặc thù, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho tổ chức Đoàn.

6.1. Đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý

Nhóm giải pháp này tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống văn bản, quy chế liên quan đến công tác cán bộ Đoàn. Cần cụ thể hóa các tiêu chuẩn cho từng chức danh, xây dựng quy trình tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển một cách minh bạch và khoa học. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về cán bộ để kịp thời chấn chỉnh các sai sót, đảm bảo các nguyên tắc của Đảng trong công tác cán bộ được thực hiện nghiêm túc tại tất cả các cấp bộ Đoàn.

6.2. Kiến nghị đối với cấp ủy và tổ chức Đoàn cấp trên

Để các giải pháp đi vào thực tiễn, cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao từ các cấp lãnh đạo. Kiến nghị với Huyện ủy, UBND huyện Sóc Sơn cần quan tâm hơn đến chính sách đãi ngộ và quy hoạch đầu ra cho cán bộ Đoàn. Đối với Thành đoàn Hà Nội và Trung ương Đoàn, cần có những hướng dẫn, cơ chế đặc thù cho các đơn vị ngoại thành như Sóc Sơn. Đặc biệt, cần tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mở các lớp học chuyên sâu về kỹ năng, nghiệp vụ công tác thanh vận trong bối cảnh mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nguồn nhân lực đối với tổ chức đoàn thanh niên trên địa bàn huyện sóc sơn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc sắp xếp theo cấu trúc luận văn 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nguồn lực cán bộ Đoàn cấp cơ sở ở huyê ̣n Sóc Sơn nhƣ̃ng năm gầ n đây Chƣơng 4: Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn lực cán bộ của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở tại huyện Sóc Sơn Kết luận 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề cơ bản về quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Khái niệm quản lý nguồn nhân lực đƣợc trình bày theo nhiều góc độ khác nhau: Ở góc độ tổ chức quá trình lao động: “Quản lý nguồn nhân lực là lĩnh vực theo dõi, hƣớng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lƣợng, thần kinh, bắp thịt) giữa con ngƣời với các yếu tố vật chất của tự nhiên (công cụ lao động, đối tƣợng lao động, năng lƣợng.) trong quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần để thoả mãn nhu cầu của con ngƣời và xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển tiềm năng của con ngƣời”. Với tƣ cách là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị: Quản lý nhân lực bao gồm các việc từ hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát các hoạt động liên quan đến việc thu hút, sử dụng và phát triển ngƣời lao động trong các tổ chức.

Đi sâu vào chính nội dung hoạt động của quản trị nhân lực thì “Quản lý nguồn nhân lực là việc tuyển dụng, sử dụng, duy trì và phát triển cũng nhƣ cung cấp các tiện nghi cho ngƣời lao động trong các tổ chức”. Tựu chung lại, quản lý nguồn nhân lực đƣợc quan niệm trên hai góc độ: nghĩa hẹp và nghĩa rộng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghĩa hẹp của quản lý nguồn nhân lực là cơ quan quản lý làm những việc cụ thể nhƣ: tuyển ngƣời, bình xét, giao công việc, giải quyết tiền lƣơng, bồi dƣỡng, đánh giá chất lƣợng cán bộ công nhân viên nhằm chấp hành tốt mục tiêu, kế hoạch của tổ chức. Xét trên góc độ quản lý, việc khai thác và quản lý nguồn nhân lực lấy giá trị con ngƣời làm trọng tâm, vận dụng hoạt động khai thác và quản lý nhằm giải quyết những tác động lẫn nhau giữa ngƣời với công việc, giữa ngƣời với ngƣời và giữa ngƣời với tổ chức.

Tóm lại, khái niệm chung nhất của quản lý nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: “Quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động nhằm tăng cƣờng những đóng góp có hiệu quả của cá nhân vào mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt đƣợc các mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân”. Quan điểm trên dựa trên 4 tiếp cận hiện đại sau đây: Tiếp cận về con ngƣời: Quản lý nguồn nhân lực là quản lý con ngƣời trong một tổ chức, do đó phải biết chú ý tới các lợi ích của họ trong quá trình họ thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Hơn nữa muốn quản lý tốt họ các nhà quản lý phải rất hiểu biết về con ngƣời, phải biết tôn trọng họ cũng nhƣ biết động viên các khả năng tích cực, chủ động, sáng tạo. còn tiềm ẩn trong mỗi ngƣời nhân viên.

Nhờ đó mà các xã hội và các doanh nghiệp mới có thể thành công và phát triển nhanh chóng đƣợc. Tiếp cận về quản lý: Quản lý là tổng hợp các hoạt động có ý thức nhằm thực hiện các mục đích và mục tiêu của tổ chức thông qua các nỗ lực của cá nhân. Quản lý gồm các hoạt động: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều phối và kiểm tra. Quản lý nguồn nhân lực là trách nhiệm của mọi ngƣời quản lý 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong tổ chức.

Phòng quản lý nguồn nhân lực phải cố vấn, phục vụ cho mọi cán bộ quản lý trong đơn vị để họ có thể quản lý ngày càng tốt hơn những ngƣời lao động trong bộ phận của mình. Tiếp cận về hệ thống: Doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp và mở ra môi trƣờng bên ngoài, mà trong đó mỗi bộ phận và cá nhân là các phân hệ và các phần tử có quan hệ chắt chẽ và mật thiết với nhau để thực hiện những mục đích, mục tiêu chung của nó. Chỉ một phần tử nào đó không bình thƣờng thì cả doanh nghiệp đó sẽ bị ảnh hƣởng. Do đó, ngoài việc biết phân công lao động một cách cân đối, hợp lý cho từng cá nhân và từng bộ phận, các nhà quản lý còn phải biết tổ chức và tạo lập điều kiện lao động tốt nhất cho họ tiến hành sản xuất kinh doanh, cũng nhƣ phải biết quan tâm một cách hợp lý và hài hoà nhất đến các lợi ích của họ trong quá trình tồn tại cũng nhƣ phát triển doanh nghiệp.

Tiếp cận về mặt chủ động tích cực: ngoài việc tạo lập và duy trì một cách tích cực các cố gắng của từng cá nhân và bộ phận trong một tổ chức, quản lý nguồn nhân lực còn phải biết nhìnnthấy trƣớc đƣợc các thách thức cũng nhƣ các vấn đề có ảnh hƣởng đến con ngƣời và kết quả lao động của họ, để từ đó có sự chuẩn bị trƣớc, đề phòng trƣớc nhằm làm tăng sự đóng góp một cách chủ động và tích cực hơn nữa của tất cả mọi ngƣời trƣớc khi các thách thức đó xuất hiện. Nhìn chung, doanh nghiệp nào cũng đều có bộ phận quản lý nguồn nhân lực. Bộ phận này chủ yếu xây dựng các chế độ, đƣa ra các tài liệu tƣ vấn và những quy định cụ thể có liên quan đến quản lý nguồn nhân lực. Phụ trách nguồn nhân lực của doanh nghiệp là một trong những bộ phận chính của Tổng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giám đốc, có nhiệm vụ phục vụ các ngành trực thuộc bên dƣới, tuy nhiên, không có quyền ra lệnh cho nhân viên cấp dƣới phải tiếp nhận phần phục vụ ấy.

Nhƣ vậy, quản lý nguồn nhân lực gắn liền với mọi tổ chức bất kể tổ chức đó có phòng hoặc bộ phận quản trị nhân sự hay không. Quản lý nguồn nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị và nó có gốc rễ cùng các nhánh trải rộng khắp nơi trong một tổ chức. Trên thực tế, đôi khi “Quản lý nhân sự” và “Quản lý nguồn nhân lực” đƣợc dùng thay thế cho nhau; tuy nhiên, giữa hai khái niệm này có sự khác biệt cơ bản. Quản lý nhân sự trong một tổ chức đƣợc gọi là quản lý những con ngƣời trong tổ chức đó, nhƣng nghiêng về khía cạnh hành chính, thƣờng là áp dụng khá cứng nhắc những quy định, nguyên tắc của tổ chức nhƣ tuyển dụng, trả lƣơng…trong lĩnh vực quản lý con ngƣời.

Trong khu vực nhà nƣớc, một số quy định về quản lý con ngƣời đƣợc quyết định bởi các chính sách của nhà nƣớc, do vậy việc áp dụng các chính sách này trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh gặp nhiều khó khăn và không hợp lý cho cán bộ Đoàn, do chƣa tính đến nhu cầu của tổ chức, nhu cầu của cá nhân và bản thân ngƣời lao động. Ví dụ: việc thu hút các nhân tài về làm việc trong tổ chức công không tính toán cụ thể có thể dẫn đến tuyển dụng quá nhiều ngƣời, vƣợt quá mức cần thiết cho công việc…. Trong khi quản lý nguồn nhân lực có nội hàm rộng hơn. Nó vừa có tầm vĩ mô, phạm vi quản lý là nguồn nhân lực của một quốc gia, vừa ở tầm vi mô trong một tổ chức, quản lý nguồn nhân lực không phải theo nghĩa hành chính, áp đặt chính sách mà là sự tìm kiếm mối liên hệ giữa công việc và ngƣời thực hiện công việc đó, cải thiện nó, nhằm mục đích đạt hiệu quả tối đa cho tổ chức trên cơ sở sử dụng một cách có hiệu quả nhất NNL.

Nói một cách cụ thể hơn, QLNNL trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tất cả các hoạt động của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh gắn thực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trạng với việc áp dụng các nguyên tắc pháp định, nhằm xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lƣợng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về phƣơng diện định lƣợng (số lƣợng NNL) và định tính (năng lực của NNL và động cơ của ngƣời lao động). Đặc điểm của NNL trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp cơ sở * Đặc điểm thứ nhất: - Sự không ổn định: trái với NNL trong các tổ chức công hay các bộ máy nhà nƣớc và trong các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội khác là có tính ổn định thì riêng đối với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lại có tính không ổn định. Sự bất ổn này đƣợc thể hiện nhƣ sau: + Về nhiệm vụ đƣợc giao: Có sự biến động về nhiệm vụ công tác thƣờng là nhiệm vụ chính trị trong năm, nghị quyết trong nhiệm kỳ. + Về con ngƣời: Tỷ lệ cán bộ gắn bó trong tổ chức Đoàn lâu năm là ít, bởi cán bộ Đoàn chuyên trách bị khống chế về độ tuổi tạo ra nhiều sự xáo trộn và gây khó khăn cho việc lập kế hoạch NNL.

* Đặc điểm thứ hai: là những khó khăn khá đặc thù trong quá trình vận hành hoạt động QL NNL tại tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. - Sự ràng buộc của hệ thống chính sách: Những quy định, ràng buộc mang tính cứng nhắc, hành chính trong việc ra quyết định về nhân sự trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã có ảnh hƣởng tiêu cực đến QL NNL. Việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện hiệu quả hơn đòi hỏi mất nhiều thời gian. Vấn đề là cần thay đổi tƣ duy, văn hóa trong QL NNL.

Nếu nhƣ các hoạt động của cơ quan nhà nƣớc mang nặng tính quy phạm thì hoạt động QL NNL trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần có tính đặc thù nhƣ bổ sung thêm một số yếu tố khác. Việc quản lý con ngƣời đồng thời vừa phải bằng quy định, vừa phải theo công việc, năng lực. Đây cũng chính là việc chuyển từ quản lý nhân sự sang quản lý nguồn nhân lực. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quản lý NNL trƣớc tiên là đặt nhân viên vào những vị trí tƣơng ứng với năng lực và động cơ làm việc của họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ