phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc thiết kế thành 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan và cơ sở lý luận, thực tiễn về Quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cấp tỉnh. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Hà Nam Chƣơng 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn tỉnh Hà Nam. 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Chi NSNN đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nó thƣờng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và phát triển quyền lực của nhà nƣớc. Cùng với sự phát triển đó, nó đòi hỏi một lý thuyết nhất quán và toàn diện để hiểu về chi NSNN và quản lý hiệu quả nó. Tác giả ngƣời Mỹ Mabel Waker đã quan tâm nhiều về tài chính công mà cụ thể là vấn đề phân bổ chi ngân sách, trong“Municipal Expenditures” - Nguyên lý chi tiêu, đƣợc xuất bản năm 1930, bà Mabel Waker đã tổng quan về lý thuyết chi NSNN và phát minh ra lý thuyết xác định và khuynh hƣớng phân bổ chi NSNN, Cũng nhận ra điều này, V. Key (1940) đã viết bài báo nỗi tiếng “The lack of a Budgetary Theory” - Sự thiếu hụt một lý thuyết ngân sách.
Key đã chỉ ra các vấn đề khi không có lý thuyết ngân sách và phân tích tầm quan trọng của nó trong quản lý kinh tế vĩ mô cũng nhƣ gia tăng hiệu quả phân bổ ngân sách của chính phủ. Những năm gần đây, trên thế giới đã có một loạt công trình đƣợc công bố về vấn đề quản lý giáo dục. Ngay từ năm 1991, khi nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu cải tổ, chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, Nhà nƣớc Trung Quốc đã nhận ra tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế đất nƣớc và vào thời điểm đó, ngày 15/4/1991, Shengliang Deng, Trƣờng Đại học Saskatchewan, Saskatoon, Trung Quốc và Yinglou Wang, Trƣờng Đại học Giao thông Tây An, Trung quốc, tác giả của bài “Quản 6 z lý giáo dục ở Trung Quốc: Quá khứ, hiện tại và tƣơng lai” đã thuyết phục ngƣời đọc rằng: Quản lý giáo dục ở Trung Quốc đã đạt đƣợc nhiều thành tựu và là cơ sở cho quá trình phát triển, cải tổ kinh tế. Tuy nhiên, quản lý giáo dục ở Trung Quốc vẫn đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng nhƣ: sự thiếu hụt giáo viên có đủ điều kiện, chƣơng trình giảng dạy không tƣơng xứng, điều kiện làm việc của giáo viên còn thiếu và trệch hƣớng đi so với nhu cầu của xã hội.
Tất cả những vấn đề đó đe dọa tới sự cải tổ kinh tế Trung Quốc. Bởi vì, chỉ có đào tạo ra những con ngƣời tốt mới là nền tảng cho sự thành công của các doanh nghiệp và tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Từ cơ sở đó, bài báo đã tổng quan lại hệ thống quản lý giáo dục của Trung Quốc, thảo luận những vấn đề hiện tại và đề ra những giải pháp cho quản lý giáo dục Trung Quốc. Hai tác giả nhấn mạnh quản lý giáo dục là quản lý trên nhiều mặt điểm khác với phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu sinh): giáo viên, học sinh, sinh viên và ngƣời lãnh đạo các cấp của giáo dục, tài chính dành cho giáo dục.
Khi nghiên cứu sự tiến triển của các lý thuyết về ngân sách nhà nƣớc trong thời gian qua nhƣ: từ phƣơng thức ngân sách theo khoản mục, phƣơng thức ngân sách theo công việc thực hiện, phƣơng thức ngân sách theo chƣơng trình, cho đến phƣơng thức ngân sách theo kết quả đầu ra. Martin, Lawrence và Kettner đã so sánh và chỉ ra sự tiến triển trong các lý thuyết ngân sách trên trong nghiên cứu (1996) “Measuring the Performance of Human Service Programs” - Đo đạc thực hiện các chƣơng trình dịch vụ con ngƣời, và chỉ rõ đƣợc ƣu thế vƣợt trội của phƣơng pháp quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra. Ngân sách theo kết quả đầu ra trả lời câu hỏi mà các nhà quản lý tài chính công luôn phải đặt ra đó là: “nên quyết định nhƣ thế nào để phân bổ X đôla cho hoạt động A thay vì cho hoạt động B”. Estelle James, Elizabeth M.
King and Ace Suryadi – Bộ văn hóa và giáo dục, Jakarta, Inđônêxia (1999) đã đi vào so sánh hiệu quả của quản lý tài 7 z chính giáo dục khối công lập và khối dân lập, đƣa ra những khẳng định bƣớc đầu qua bài: “Tài chính, quản lý chi phí giữa các trƣờng công lập và tƣ thục ở Inđônêxia”. Bằng việc điều tra, phân tích số liệu của những vấn đề liên quan nhƣ: chi phí, hiệu quả của nó tƣơng ứng với mức chi phí bỏ ra, thu nhập của cán bộ công nhân viên chức trong các trƣờng học, số sinh viên đƣợc tuyển dụng sau khi tốt nghiệp các trƣờng dạy nghề, cao đẳng và Đại học,…để đƣa ra những giải pháp khắc phục tình trạng quản lý tài chính ở khối các trƣờng dân lập mang lại hiệu quả hơn khối các trƣờng công lập. Năm 2003, Peter Lorange, Pergamon, tác giả của cuốn sách “Cách nhìn mới về quản lý giáo dục- thách thức đối với nhà quản lý” đã bắt đầu bằng những lập luận cơ bản của mình dựa trên những thuyết về kinh tế, văn hóa,… để tìm ra cách thức quản lý giáo dục mang tính hiện đại. Tác giả đề cập khá nhiều đến làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc học, cách thức của ngƣời quản lý ảnh hƣởng đến sản phẩm giáo dục, những chủ thể trong xã hội sẽ thẩm định lại sản phẩm giáo dục, đặc biệt tác giả nhấn mạnh và khẳng định, chất lƣợng đào tạo tốt, ngƣời quản lý về lĩnh vực giáo dục có tầm nhìn sẽ định hƣớng đƣợc nhu cầu thị trƣờng,… Mặc dù, có rất nhiều điểm mới về quản lý giáo dục so với những công trình công bố trƣớc đó, nhƣng đi vào phân tích chuyên sâu để tìm ra giải pháp cho một khía cạnh, ví dụ: quản lý tài chính giáo dục, hay thiết kế quy trình quản lý tài chính, tìm nguồn tài chính khác ngoài nguồn NSNN cho các trƣờng Đại học công lập, đồng thời xây dựng hệ thống chỉ tiêu để phân loại trƣờng Đại học công lập có khả năng tự chủ tài chính thì chƣa thể hiện trong các công trình nghiên cứu đã công bố.
Công trình nghiên cứu của tác giả sẽ đi vào giới hạn cụ thể của quản lý tài chính các trƣờng Đại học công lập (quản lý thu - chi - quản lý tài sản công) trên cở sở đó phân loại những trƣờng đại học công lập có khả năng tự chủ toàn bộ và những trƣờng không có khả năng tự chủ toàn bộ. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, Thời gian gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục. “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trƣờng phổ thông Hà Nội” của tác giả Nguyễn Duy Phong đi tìm giải pháp để quản lý tài chính của các trƣờng phổ thông. Đề tài tập trung phân tích cơ chế quản lý tác động đến hiệu quả quản lý của các trƣờng phổ thông trên một địa bàn.
Năm 2008, luận án của tác giả Nguyễn Anh Thái - Học viện tài chính đã đƣợc bảo vệ với đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trƣờng Đại học ở Việt Nam”. Nếu nhƣ, công trình của tác giả Nguyễn Duy Phong, tác giả đề xuất giải pháp quản lý tài chính cho khối các trƣờng phổ thông, thì tác giả Nguyễn Anh Thái tập trung phân tích nội dung cơ chế chính sách để quản lý tài chính đối với các trƣờng Đại học nói chung. Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính dành cho các trƣờng Đại học mà tác giả Nguyễn Anh Thái mang tính hàn lâm, nặng về lý thuyết. Tác giả đã dừng lại ở việc nêu vấn đề: tạo nguồn tài chính đa dạng cho đào tạo, xây dựng cơ chế kiểm soát, chính sách học phí, học bổng, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý đối với các trƣờng đại học, mà chƣa luận giải sâu sắc.TS Nguyễn Công Giáp - Viện chiến lƣợc và chƣơng trình giáo dục - tác giả của cuốn sách “Kinh tế học giáo dục”, cũng đã nêu ra những tất yếu của việc quản lý giáo dục ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục.
Luận án tiến sĩ kinh tế : “Hoàn thiê ̣n cơ chế lập dự toán chi ngân sách nhà nƣớc gắn với kế hoạch phát triể n kinh tế - xã hô ̣i ở Việt Nam” của tác giả Ngô Thanh Hoàng (2013) đã chỉ ra cơ chế lâ ̣p dự toán Ngân sách Nhà nƣớc theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn đã bắt đầ u đƣợc nghiên cứu và thử nghiê ̣m ở Việt Nam , tuy nhiên làm thế nào để có đƣợc cơ chế đồ ng bô ̣ , hoàn thiê ̣n nhằm gắn kế t cơ chế lâ ̣p dự toán với kế hoạch phát triể n kinh tế xã hô ̣i để đạt đƣợc các mục tiêu kế hoạch phát triể n kinh tế xã hô ̣i vẫn là mô ̣t thách thức 9 z không chỉ cho những nhà nghiên cứu mà còn cho cả các nhà quản lý thực tiễn. Luận án nghiên cứu các nội dung khoa học chủ yếu liên quan tới lập kế hoạch phát triển KTXH và lập dự toán chi NSNN cũng nhƣ cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi NSNN với kế hoạch phát triển KTXH ở Việt Nam trong những năm qua, phân tích cơ chế gắn kết giữa lập dự toán chi NSNN hàng năm theo Luật Ngân sách 2002 với kế hoạch phát triển KTXH từ đó so sánh, phân tích, liên hệ tìm ra một số giải pháp liên quan đến cơ chế gắn kết. “Đổi mới quản lý đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc cho đào tạo đại học, sau đại học ở Việt Nam” trên tapchicongsan.vn ngày 10/07/2012 của tác giả Phùng Văn Hiền - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã đƣa ra vấn đề công tác đào tạo đại học, sau đại học ở nƣớc ta ngày càng tác động sâu sắc, toàn diện vào việc đổi mới chƣơng trình giáo dục, cung cấp nguồn nhân lực chất lƣợng cao phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.