MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo, vì thế “giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu”. Giáo dục là hướng tới sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người. Như chúng ta đều biết, môi trường giáo dục là tập hợp không gian với các hoạt động xã hội của cá nhân, các phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục đạt hiệu quả cao nhất.
Nhiệm vụ chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và phát triển môi trường giáo dục lành mạnh đã trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được xác định trong Luật Giáo dục để mọi cá nhân và tổ chức thực hiện. Do đó, việc xác định nhiệm vụ xây dựng và phát triển môi trường văn hóa giáo dục cho thế hệ trẻ là trọng tâm của ngành giáo dục, nhưng để hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng này đòi hỏi phải có sự quan tâm của toàn xã hội. Xác định mục tiêu chung của giáo dục là phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ. Giáo dục được một con người trưởng thành là một việc rất khó.
Do bản chất nhân văn của giáo dục, cùng với đạo lý và lẽ sống tình người đang thôi thúc chúng ta phải góp phần mình vào việc xây dựng một môi trường sống tốt đẹp cho mọi người, trong đó, cần có sự liên kết phối hợp các lực lượng trong giáo dục để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) là kiểu mô hình nhà trường tiên tiến, hiện đại. Mô hình này dựa trên kết quả và thành tựu đổi mới giáo dục của quốc tế; vận dụng cách làm của giáo dục Colombia một cách sáng tạo, phù hợp với mục tiêu phát triển và đặc điểm của giáo dục Việt Nam. Mô hình này đã được UNICEF, UNESCO, Ngân hàng Thế giới (WB) ủng hộ và đánh giá cao.
Mô hình trường học mới vừa kế thừa những mặt tích cực của mô hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 http://www.vn/ trường học truyền thống, vừa có sự đổi mới căn bản về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, tài liệu học tập, phương pháp dạy - học, cách đánh giá, cách tổ chức quản lý lớp học, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy - học. Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao. Do đó muốn thực hiện được sự giáo dục toàn diện học sinh, chúng ta phải coi trọng cả giáo dục nhà trường lẫn giáo dục gia đình và xã hội. Chỉ riêng nhà trường, chỉ riêng ngành giáo dục thì không thể làm tốt công tác giáo dục được.
Đúng như Bác Hồ đã nói: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã coi phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; phát triển khoa học công nghệ cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và là động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc biệt là việc tạo bước chuyển biến mạnh về phát triển nguồn nhân lực mà trọng tâm là giáo dục và đào tạo, đã được xác định là một trong ba khâu đột phá then chốt để làm chuyển động toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội.
Vì thế mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với trách nhiệm của bản thân em, em hiểu rõ hơn ai hết trách nhiệm của mình trong việc tìm biện pháp giáo dục nhân cách tốt đẹp cho học sinh; các nhà trường phải thực sự đóng góp vào sự phát triển xã hội thông qua việc thực hiện chức năng chủ yếu là đào tạo con người và các chức năng xã hội khác. Trước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 http://www.vn/ hết, nhà trường phải tổ chức tốt các hoạt động giảng dạy, giáo dục và học tập; phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, phát huy hiệu quả giáo dục, bao gồm hiệu quả trong và hiệu quả ngoài, không chỉ thể hiện ở kết quả lên lớp mà ở sản phẩm đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội; yêu cầu của gia đình và của cộng đồng. Mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình là mối quan hệ hai chiều phải được quan tâm thường xuyên và giải quyết kịp thời theo từng bước phát triển của xã hội.
Huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang là một huyện miền núi có 17 xã, 01 thị trấn; trong đó có 15/18 xã, thị trấn thuộc vùng khó khăn, 39/321 thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi. Hiện nay có 02 trường trên địa bàn thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên đang thí điểm thực hiện theo mô hình trường học mới VNEN cấp tiểu học có chuyển biến rất tốt. Tuy nhiên, bên cạnh những phản hồi tích cực, mô hình này vẫn còn rất nhiều hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới, vì đây là mô hình mới đang thử nghiệm nên rất nhiều phụ huynh học sinh còn băn khoăn, lúng túng, e ngại khi sử dụng mô hình này thì con em họ có phát huy được về tất cả các mặt về trí, đức, thể, mỹ hay không? Đặt ra cho các nhà giáo dục một trách nhiệm nặng nề sẽ tổ chức đồng loạt thực hiện mô hình giáo dục này. Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong công tác giáo dục thì rất nhiều.
Trong đó, nhận thức của nhiều người dân về việc học, về công tác giáo dục còn thấp. Công tác phối hợp giữa các lực lượng trong thực hiện nhiệm vụ giáo dục cho học sinh còn nhiều hạn chế… Từ những lý do trên, em đã chọn Đề tài: “Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội theo mô hình trường học VNEN cấp Tiểu học ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” là Đề tài nghiên cứu góp phần áp dụng vào thực tế để tăng cường biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội theo mô hình trường học VNEN cấp Tiểu học trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 http://www. Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội theo mô hình trường học VNEN cấp Tiểu học trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của huyện.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu Hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục tiểu học. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội theo mô hình trường học VNEN cấp Tiểu học trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ở cấp Tiểu học theo mô hình trường học VNEN.
- Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục tiểu học ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang - Đề xuất biện pháp quản lý phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội theo mô hình trường học VNEN cấp Tiểu học trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Phạm vi đề tài - Đề tài chỉ nghiên cứu quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội theo mô hình trường học VNEN ở các trường Tiểu học đang thực nghiệm mô hình này ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. - Số liệu khảo sát từ năm 2012 đến năm 2014. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp các văn kiện của Đảng, Luật giáo dục, các chỉ thị, nghị quyết của Chính phủ.
Nghiên cứu tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 http://www.vn/ liệu, văn bản có liên quan đến đề tài nghiên cứu để xác định cơ sở lý luận cho đề tài, định hướng cho vấn đề nghiên cứu. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: + Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, xây dựng các mẫu phiếu điều tra: cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, các lực lượng xã hội, cha mẹ học sinh. + Phương pháp phỏng vấn. - Phương pháp thống kê toán học: xử lý các số liệu bằng toán thống kê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƢỜNG VỚI GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI THEO MÔ HÌNH TRƢỜNG HỌC VNEN CẤP TIỂU HỌC 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Như chúng ta đã biết, trách nhiệm của nhà trường trong việc tổ chức phối hợp với gia đình để giáo dục học sinh là vấn đề từ lâu đã được xã hội và các nhà giáo dục rất coi trọng. Trong nền giáo dục cận đại, Komenxki J. (1592- 1670) là người đầu tiên nêu ra một hệ thống lý luận chặt chẽ về tầm quan trọng của mối quan hệ thống nhất giữa gia đình và nhà trường đối với kết quả giáo dục của học sinh.
Ông khẳng định rằng: lòng ham học của trẻ không thể thiếu vắng sự kích thích từ phía bố mẹ và thầy cô:….“Các bậc cha mẹ, giáo viên nhà trường, bản thân môn học, phương pháp dạy học phải thống nhất làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh” [22;94]…. Nhiều nhà lỗi lạc của Liên Xô đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự phối hợp, hợp tác giữa nhà trường với gia đình trong việc thực hiện mục đích giáo dục những người công dân chân chính trong tương lai đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa.