Chương 1: Thành phần, nội dung và ý nghĩa của tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài(nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai). Trong chƣơng này, tác giả tập trung nghiên cứu về lịch sử hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Đồng thời, khái quát về thành phần, nội dung của các loại tài liệu hình thành trong hoạt động của các doanh nghiệp và ý nghĩa của nó đối với chính doanh nghiệp và đối với nền kinh tế - xã hội Việt Nam. Chương 2: Các biện pháp tổ chức và quản lý công tác lưu trữ trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai).
Trong chƣơng này, tác giả tập trung nghiên cứu về các biện pháp tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên địa bàn Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai. Trên cơ sở đó, tác giả nhận xét, đánh giá về các hiệu quả, ƣu điểm, hạn chế và phân tích các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế về tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài hiện nay. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý công tác lưu trữ trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai. Trong chƣơng này, tác giả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức và quản lý công tác lƣu trữ trong các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trên địa bàn Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: THÀNH PHẦN, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA TÀI LIỆU LƢU TRỮ HÌNH THÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 100% VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI (Nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai) 1. Lịch sử hình thành và vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai 1. Lịch sử hình thành và phát triển của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp tại Đồng Nai a) Giai đoạn 1870 – 1986 Đồng Nai là một địa phƣơng có bề dày lịch sử trong phát triển ngành công nghiệp và nhận đƣợc sự đầu tƣ của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài từ rất sớm.
Theo Địa chí Đồng Nai- tập 4 thì ngay từ năm 1870, đông Kresser lập một Xƣởng đƣờng ở Biên Hòa, là chi nhánh Công ty lọc đƣờng Hồng Kông. Sau đó “năm 1880, nhà tƣ bản Lancelot mở Nhà máy đƣờng Lạc An (tổng Chánh Mỹ Hạ). Năm 1897, nhà tƣ sản Blondel đƣợc chính quyền tỉnh Biên Hòa cho phép khai thác gỗ ở một số khu vực thuộc Trảng Bom, Xuân Lộc để chế biến gỗ tròn thành gỗ xây dựng, đã mở một trại cƣa thủ công ở làng Tân Mai. Trƣớc năm 1900, một nhà tƣ sản Pháp là Pelleau xây dựng một xƣởng sản xuất sơn và vécni chỉ hoạt động một thời gian thì ngƣng”[69; tr.
Nhƣ vậy, ngay từ thế kỉ 19, đã có nhiều nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào tỉnh Đồng Nai để xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh. Thế kỉ 20, Đồng Nai tiếp tục nhận đƣợc ngày càng nhiều sự đầu tƣ của các chủ sở hữu doanh nghiệp nƣớc ngoài. “Năm 1907, Công ty kỹ nghệ và lâm nghiệp Biên Hòa đƣợc thành lập và xây dựng Hãng cƣa Tân Mai (BIF) trang bị máy móc hiện đại thời bấy giờ - đó là nhà máy công nghiệp cỡ lớn đầu tiên đƣợc xây dựng ở Biên Hòa. Từ năm 1920 đến năm 1930, các nhà tƣ sản Pháp xây dựng ba xí nghiệp sơ chế mủ cao su cỡ nhỏ tại các đồn điền cao su An Lộc, Hàng Gòn, Cẩm Mỹ.
Năm 1958, Toà hành chính Long Khánh xây dựng cơ sở phát điện diesel Xuân Lộc với công suất 8,0MW để phục vụ cho khu vực tỉnh lỵ Long Khánh. Cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, công nghiệp ở tỉnh Biên Hòa bắt đầu khởi động qua việc xây dựng Nhà máy giấy Đồng Nai COGIDO ở ấp An Hảo, xã Tam Hiệp và nhà máy giấy Tân Mai COGIVINA, cạnh Nhà máy cƣa Tân Mai”[69;tr. Với vị trí địa lý thuận lợi và những tiềm lực về các nguồn tài nguyên, Đồng Nai nhƣ một địa chỉ lý tƣởng để các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài lựa chọn trong quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy, “tháng 6 - 1961 chính quyền Sài Gòn lập ra Ủy ban nghiên cứu thuộc Trung tâm khuếch trƣơng kỹ nghệ SONADEZI (Société nationale pour le développement des zônes industrielles) thuộc Bộ kinh tế.
Đến 21 - 5 - 1963 ra sắc lệnh số 49/KT về việc thành lập Khu kỹ nghệ Biên Hòa. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1974, công nghiệp của hai tỉnh Biên Hòa và Long Khánh phát triển nhiều lần so với trƣớc năm 1954. Lần đầu tiên một khu kỹ nghệ nhiều ngành có quy mô lớn nhất miền Nam ra đời, các máy móc thiết bị hiện đại sản xuất nhiều mặt hàng đáp ứng phần nào nhu cầu xã hội, bảo đảm cung ứng một phần hậu cần cho quân đội Sài Gòn, mỗi năm có thể tiết kiệm khoảng 18 triệu đôla Mỹ, nhƣng quan trọng hơn nó giúp thay đổi cơ cấu kinh tế trong tỉnh và giải quyết công ăn việc làm cho dân chúng. Nhìn chung công nghiệp Đồng Nai trƣớc ngày giải phóng 30 - 4 - 1975 đã phát triển, nhƣng phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (từ 50 - 100 công nhân) và tập trung chủ yếu tại Biên Hòa (72 trong 86 nhà máy, xí nghiệp của toàn tỉnh tập trung ở Biên Hòa).
Máy móc thiết bị thuộc nhiều nƣớc: Mỹ, Nhật, Tây Đức, Đài Loan. đã lắp đặt từ hàng chục năm về trƣớc. Nguyên liệu, vật tƣ, phụ tùng và kỹ thuật đều phụ thuộc vào nƣớc ngoài. Đầu năm 1976 Trung ƣơng tiến hành phân cấp quản lý công nghiệp cho các bộ và địa phƣơng, trong đó Trung ƣơng quản lý 40 nhà máy.
Địa phƣơng quản lý 46 nhà máy, xí nghiệp. Đồng thời trong năm 1976, tỉnh cũng thành lập Ty Công nghiệp Đồng Nai (sau đổi thành Sở Công nghiệp Đồng Nai hoạt động cho đến ngày nay) để quản lý Nhà nƣớc đối với ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Từ năm 1975 -1986, tình hình kinh tế tỉnh Đồng Nai nói chung và công nghiệp nói riêng trải qua hai thời kỳ có tính bƣớc ngoặt quan trọng, đó là thời kỳ 1976 - 1985: Quản lý công nghiệp nói riêng và quản lý kinh tế nói chung thời kỳ này áp dụng cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Đến 31 - 12 - 1980 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã khôi phục và đi vào hoạt động ổn định 39 xí nghiệp quốc doanh (XNQD) do Trung ƣơng quản lý; 46 XNQD cũ do địa phƣơng quản lý.
Đồng thời tỉnh còn xây dựng mới đƣợc 29 XNQD.; vận động thành lập 60 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp với 4.624 lao động; 376 tổ hợp sản xuất và 4.051 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp với 4. Có thể khẳng định rằng Đồng Nai nói chung và Thành phố Biên Hòa nói riêng đã đƣợc các nhà đầu tƣ cũng nhƣ chính quyền Nhà nƣớc quan tâm đầu tƣ phát triển công nghiệp từ rất sớm. Nhờ vậy, ở Đồng Nai đã hình thành những điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết cũng nhƣ xây dựng tƣơng đối hoàn chỉnh về hệ thống giao thông cũng nhƣ các điều kiện khác cho ngành công nghiệp phát triển về sau. Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp ở Đồng Nai cũng là minh chứng cho thấy ở đây là một địa chỉ có nhiều tiềm năng và là địa chỉ lý tƣởng để thu hút đầu tƣ.
b) Giai đoạn 1986 – nay Từ năm 1986 đến nay, lịch sử công nghiệp đã chứng kiến sự đầu tƣ mạnh mẽ của các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài vào tỉnh Đồng Nai. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp cũng đã phản ánh chính xác các chính sách và đƣờng lối đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc đối với ngành công nghiệp. “Nghị quyết của Đại hội tỉnh Đảng bộ Đồng Nai lần thứ IV xác định nhiệm vụ của địa phƣơng: chuyển đổi từ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, xoá bỏ bao cấp, tiến hành rà soát, sắp xếp lại các cơ sở sản xuất, mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế đầy đủ cho các doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong thời kỳ này về giá trị tổng sản lƣợng công nghiệp trên địa bàn (tính theo giá cố định 1989): năm 1985 đạt 325.Ngành công nghiệp Đồng Nai hiện nay cung cấp cho xã hội và xuất khẩu nhiều sản phẩm hàng hóa với nhiều chủng loại”[69;tr.
“Với vị thế "thiên thời địa lợi nhân hòa”, Đồng Nai trở thành địa danh hấp dẫn đối với các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và trong nƣớc. Tính đến cuối tháng 11 năm 1997, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 222 dự án đầu tƣ của nƣớc ngoài đƣợc cấp giấy phép với số vốn đầu tƣ là 4.120 triệu USD, trong đó đầu tƣ vào ngành công nghiệp có 208 dự án với số vốn đầu tƣ là 3.907 triệu USD, chiếm 94,8% tổng số vốn đầu tƣ. Hình thức đầu tƣ là: liên doanh, 100% vốn nƣớc ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đã có 22 nƣớc đầu tƣ ở Đồng Nai gồm: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Pháp, Anh, Nga, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Ukraina, Canada, Mỹ, Bỉ, Đức, Nhật, Hà Lan, Úc, Indonesia, Na Uy, Newzealand.
“Tính đến nay, tại 31 KCN Đồng Nai đã có 39 quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động đầu tƣ với tổng số 885 dự án có vố n đầ u tƣ nƣớc ngoài với t ổng vốn đầu tƣ 14. Những ngành công nghiệp chủ yếu ở Đồng Nai hiện nay (xem phụ lục 2) Lịch sử phát triển ngành công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai đã cho thấy đây là một địa chỉ có đủ các điều kiện lý tƣởng để phát triển về công nghiệp. Thực tế, Đồng Nai hiện nay đang đƣợc coi là trung tâm công nghiệp lớn của cả nƣớc. Với những điều kiện thuận lợi sẵn có, Đồng Nai đã và đang đƣợc các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài đầu tƣ ngày càng mạnh mẽ để xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh.