Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ LỄ HỘI THẬP ĐÌNH, THÔN BẢO THÁP, XÃ ĐÔNG CỨU, HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH 1. Những vấn đề chung về quản lý lễ hội 1. Nghiên cứu một số khái niệm Lễ hội là một từ ghép và có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo từ nguyên, lễ hội là sự kết hợp của hai từ Hán - Việt là lễ và hội.
Lễ hội gồm 2 phần là lễ và hội. Trong đó, phần lễ thường gồm các nghi thức: Cúng tế, rước, hèm/trò diễn và hội gồm: Thi tài, văn hóa ẩm thực và hội chợ hàng hóa. Lễ Theo từ điển tiếng Việt: “Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện có ý nghĩa nào đó”. Lễ là những phép tắc theo khuôn mẫu của người xưa, đã quy định từ “quan - hôn - tang - tế”, là sự thể hiện những nghi thức giữa con người với xã hội.
Lễ là cách con người dùng để “hữu thể hóa, hiện thực hóa”, cái “thiêng” vốn vô hình, từ đó tạo ra sự giao lưu giữa người - thần; đời - đạo. tạo ra sự cộng cảm, cộng mệnh. Do vậy, người ta phải nhờ tới đối tượng trung gian (thầy cúng, đồ cúng) để truyền tải ý chí, ước nguyện của mình đến thánh thần. Lễ là tập hợp những yếu tố thiêng (thời gian thiêng, không gian thiêng, con người thiêng, trang thiêng, ngôn ngữ văn tự thiêng, lễ vật thiêng, hành động thiêng).
Lễ chính là nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội. Lễ là thái độ của con người trước tự nhiên đầy bí hiểm và thách đố - những câu hỏi không dễ gì giải đáp. Các nghi thức, nghi lễ của lễ toát lên sự cầu mong phù hộ, độ trì của các thần và giúp con người tìm ra những giải pháp tâm lý mặc dù phảng phất chất linh thiêng huyền bí. Lễ là sự biểu thị thái 10 độ thành kính, trân trọng và tôn vinh của thế giới hiện thực đối với thế giới siêu nhiên.
Lễ mang đậm màu sắc tôn giáo, tín ngưỡng, thể hiện lòng tôn kính của cộng đồng hay cá nhân đối với vị thần được tờ tại địa phương. Nghi lễ thường diễn ra trong thần điện hoặc không gian văn hóa chịu ảnh hưởng của thần điện đó. Đôi khi được mở rộng ra ngoài thần điện để phô diễn quyền uy, quyền năng của thần. Đồng thời để cho đời thường được xâm nhập vào thế giới thánh thần và ngược lại.
Lễ mang tính giáo điều, bất biến, buộc người ta phải tuân thủ theo những quy tắc đã định hình. Những hệ thống tín điều trong nghi lễ mang tính tưởng niệm và có tính giáo dục sâu sắc. Theo Đào Duy Anh trong cuốn Hán Việt từ điển thì lễ là “cách bày tỏ kính ý hoặc đồ vật để bày tỏ kính ý”. Lễ là phần tín ngưỡng (tế, rước), là phần đầu tiên khi tiến hành lễ hội.
Lễ là cốt lõi, là phần quan trọng nhất mang tính thiêng liêng tôn kính, là nghi lễ thờ cúng thánh, thần được coi là linh hồn của một lễ hội. Không gian và thời gian tổ chức các nghi lễ được quy định chặt chẽ. Công tác chuẩn bị lễ cần rất cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác và được thực hiện bởi một số người có vai vế nhất định, thường là các cụ cao niên có uy tín trong làng, hoặc trong dòng họ chọn ra. Hội “Hội là các hiện tượng sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nảy sinh, tích hợp và bảo lưu trong môi trường tín ngưỡng tôn giáo, nếu môi trường tín ngưỡng tôn giáo bị loại bỏ thì bản thân các sinh hoạt văn hóa cũng không thể tồn tại” [43].
Hội là bộ phận rất quan trọng của văn hóa truyền thống, 11 nó bảo lưu, gìn giữ những nét riêng, phong tục tập quán. Hội còn là điểm tựa cho mỗi cá nhân nói riêng, cho cả cộng đồng nói chung chống lại sự xâm lăng của văn hóa ngoại lai. Hội là “cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt”. Hội là đám vui đông người, gồm hai đặc điểm cơ bản là đông người tập trung trong một thời điểm và vui chơi với nhau.
Hội có nhiều trò vui đến mức như hỗn độn, tả tơi cả người (vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội). Đây là sự cộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những ngày tháng lao động vất vả với những dồn nén cần được giải tỏa và thăng bằng trở lại. Hội là những hoạt động diễn ra sau khi các nghi thức, nghi lễ đã hoàn thành, là dịp vui chơi cho quần chúng nhân dân. Hội là các hoạt động văn hóa mang đậm yếu tố cộng đồng, phản ánh đời thường, phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, quá trình cải tạo và hòa đồng với thiên nhiên và con người.
Hội phản ánh các mối quan hệ, các ứng xử con người với nhau trong đời sống văn hóa bằng tình nhân ái, tình nghĩa láng giềng, thân tộc bằng hữu, thắm đượm tinh thần cộng đồng sâu rộng. Hội hè đình đám thỏa mãn các nhu cầu thường nhật của nhân dân, là những nhu cầu về cả vật chất lẫn tinh thần với mong muốn vươn tới đỉnh cao hơn trên con đường phát triển. Hội hè đình đám là dị để bồi dưỡng nhân tài, nhân lực trên nhiều lĩnh vực. Hội là nơi bảo lưu các nét văn hóa đặc sắc của địa phương.
Phần hội thường có phần thi tài, hội chợ hàng hóa và văn hóa ẩm thực, trong đó: Hội chợ hàng hóa là các hoạt động mang chất kinh tế, văn hóa xã hội, tổ chức, trưng bày giới thiệu, bán, tiêu thụ sản phẩm hoặc tổ chức thi giữa các sản phẩm hàng hóa, các thành tựu khoa học kỹ thuật. Trong lễ hội 12 truyền thống, hội chợ được diễn ra song song cùng các hoạt động như lễ, hội, văn hóa ẩm thực. Văn hóa ẩm thực là các hoạt động có liên quan đến việc chế biến và sử dụng đồ ăn thức uống, các hoạt động thi tài trong chế biến thức ăn hoặc việc kinh doanh ăn uống đê thu lợi nhuận. Việc tổ chức trưng bày, bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống do người dân địa phương sản xuất trong lễ hội là dịp thể hiện những nét đặc sắc văn hóa địa, tài năng của các cá nhân, tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng.
Đặc biệt, qua hoạt động văn hóa ẩm thực, là dịp bổ khuyết dinh dưỡng, bồi dưỡng năng lượng cho quần chúng nhân dân vốn xưa kia nghèo đói. Lễ hội còn là dịp các cá nhân, gia đình tổ chức nấu nướng để gặp gỡ, chiêu đãi bạn bè từ nơi xa tới và cao hơn nữa ở nhiều lễ hội có hình thức thi chế biến thức ăn để chọn ra sản vật dâng cúng thánh thần. Tóm lại, hội là cuộc vui chơi bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên, nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ hội. Nếu lễ là phần đạo thì hội là phần đời, là khát vọng của mọi thành viên trong cộng đồng vươn tới những điều tốt đẹp.
Cho nên, phần hội thường được kéo dài hơn phần lễ rất nhiều và được diễn ra thật sôi động, vui vẻ, trẻ trung, mọi người đều “vào hội” để lãng quên nỗi vất vả và nhọc nhằn và cả những điều ác, sự bất công. mà hướng tới niềm vui sống và tương lai tốt đẹp. Lễ hội Có rất nhiều khái niệm về lễ hội, mỗi phương diện khác nhau có cách hiểu khác nhau, mỗi vùng miền cũng có cách hiểu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau cũng đưa ra những khái niệm khác nhau. Cho đến nay 13 rất nhiều khái niệm ở những công trình lớn nhỏ khác nhau nói về lễ hội.
Nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một khái niệm nào thống nhất về lễ hội. Theo Luật Di sản văn hóa, lễ hội được xem là di sản văn hóa phi vật thể. Điều 4 Luật Di sản văn hóa định nghĩa di sản văn hóa phi vật thể như sau: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y - dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác nhau [24, tr. Trong Từ điển tiếng Việt, có rất nhiều khái niệm về lễ hội.
Phổ biến nhất, lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống; hay lễ hội là loại hình văn hóa tiêu biểu nhất mang tính tổng hợp truyền thống văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt. Lễ hội bao gồm 2 phần: Lễ là tế, rước mang màu sắc tâm linh và Hội là các trò chơi dân gian, vừa thể hiện tính khéo léo vừa nêu cao tinh thần thượng võ, tính đoàn kết của cộng đồng [29]. Trên thực tế thì ranh giới giữa lễ và hội chỉ là tương đối, nhiều khi trong phần lễ lại bao hàm cả phần hội. Toan Ánh là người rất cẩn thận, kín kẽ trong cách sử dụng câu nói về những người dân quê khi ông đã triệt để sử dụng thuật ngữ hội hè đình đám.
Theo ông “trong hội thường có nhiều trò vui gọi là bách hí. Tuy nhiên, để dân chúng ta mua vui nhưng mục đích của hội hè đình đám không phải 14 mục đích đầu tiên của hội hè. Có thể nói được rằng mục đích đầu tiên của hội hè đình đám là để dân làng bày tỏ lòng thành kính và biết ơn với Đức Thành Hoàng, Thần linh coi sóc, che chở cho dân làng” [1, tr. Theo giáo sư Đinh Gia Khánh một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian: “Danh từ lễ hội nên được dùng như một thuật ngữ văn hoá.
Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố hội và lễ. Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng. Lễ là nghi thức đặc thù gắn với sinh hoạt ấy” [19, tr. Như tác giả Trần Quốc Vượng cũng đã viết: “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời vừa không tách rời nhau: lễ hội (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật, Mẫu.) và phần hội (tụ hội của dân một làng hay liên làng (vùng)”.