Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ LỄ HỘI ĐỀN CAO PHƯỜNG AN LẠC, THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG 1. Khái quát về quản lý lễ hội 1. Một số khái niệm liên quan 1. Lễ hội và lễ hội truyền thống * Lễ hội Về mặt ngôn từ lễ hội là một từ ghép của hai từ đơn lễ và hội.
Theo điều 4, Luật Di sản văn hóa thì lễ hội được xem là di sản văn hóa phi vật thể. Cho tới nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa về lễ hội dựa trên những quan điểm khác nhau về thành tố văn hóa đặc sắc này. Theo Ngô Đức Thịnh, “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là tấm gương phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc” [37, tr.
Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phương hoặc trong cả nước” [22, tr. Nguyễn Xuân Kính lại cho rằng: “Lễ hội (hay hội lễ) là một tổng thể bao gồm lễ và hội, ra đời từ rất sớm” [20, tr. Hay theo Hoàng Nam: “Lễ là khái niệm đạo đức của Khổng học. Nghĩa ban đầu của lễ là hình thức cúng khấn cầu thần ban phúc.
Hội là cuộc vui chung được tổ chức cho đông đảo người cùng dự. Hội được tổ chức theo phong tục hoặc nhân dịp mừng một sự kiện nào đó có ý nghĩa đối với cộng đồng và được tổ chức tại cộng đồng” [29, tr. Như vậy, tổng hợp ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể thấy: Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian diễn ra theo chu kỳ trong một không gian, thời gian nhất định bao gồm phần lễ và phần hội. Lễ là hệ thống những hành vi nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ 11 chưa có khả năng thực hiện.
Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. * Lễ hội truyền thống Thuật ngữ “lễ hội truyền thống”, “lễ hội cổ truyền” đều là từ Hán-Việt cùng chỉ một đối tượng. Theo Từ điển Tiếng Việt: cổ truyền là vốn có từ xưa truyền lại [43, tr. 196], truyền thống là được truyền lại từ các đời trước [43, tr.
Như vậy, “lễ hội truyền thống” hay “lễ hội cổ truyền” là khái niệm để chỉ những lễ hội đã hình thành từ lâu đời, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Lễ hội truyền thống được các thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước tái tạo để phù hợp với đời sống xã hội hiện thời. Ngoài ra, còn có thuật ngữ “lễ hội dân gian”, theo tác giả Nguyễn Thị Phương Châm: Lễ hội dân gian vốn là thuật ngữ được dùng để chỉ những lễ hội của dân chúng, trong đó phổ biến nhất là những lễ hội ở các làng quê do những người dân quê tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá và tín ngưỡng của họ. Chính vì vậy mà lễ hội dân gian còn được xem là hội làng và có thể gần với nhiều tên gọi khác nữa như lễ hội làng, lễ hội truyền thống, hay lễ hội cổ truyền, dù những khái niệm này không hẳn là giống nhau hoàn toàn về nội hàm [6].
Nghị định 110/2018/NĐ-CP về quản lý và tổ chức lễ hội, tại điều 3 có giải thích: “Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”. Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau về lễ hội truyền thống, tuy nhiên, có thể hiểu: lễ hội truyền thống là lễ hội có từ lâu đời, được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán. Quản lý, quản lý lễ hội, quản lý di sản văn hóa * Quản lý Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [43, tr. Tác giả Hoàng Nam cho rằng: Quản lý là một khoa học, dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật phát triển của các đối tượng khác nhau, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, đồng thời, quản lý còn là một nghệ thuật, đòi hỏi nhiều kiến thức xã hội, tự nhiên hay kỹ thuật… những hình thức quản lý có ý thức luôn gắn liền với hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch, và được thực hiện qua những thể chế xã hội đặc biệt [29, tr.
Có thể thấy “quản lý” là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý các thực hành của con người và xã hội, biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước được hiểu là sử dụng quyền lực nhà nước tác động hợp quy luật (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt hiệu quả và mục tiêu đã đề ra. Trong lĩnh vực cụ thể như văn hóa, quản lý nhà nước là sử dụng quyền lực của nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người khi tham gia vào các hoạt động văn hóa, trong đó có lễ hội, nhằm kế thừa, nối tiếp các giá trị văn hóa truyền thống.
Trên cơ sở đó, các giá trị mới được sáng tạo cùng với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo nên bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. * Quản lý lễ hội Đây là một lĩnh vực cụ thể của quản lý văn hóa, theo tác giả Bùi Hoài Sơn: Quản lý di sản nói chung, lễ hội nói riêng là công việc của Nhà nước được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật 13 về lễ hội truyền thống nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội [34, tr. Như vậy, quản lý nhà nước về lễ hội được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý như: chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy vận hành, các nguồn lực,… để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động lễ hội bằng các phương thức tổ chức, thực hiện thanh kiểm tra, giám sát nhằm vận dụng được hệ thống chính sách, văn bản pháp quy, chế tài của nhà nước đã ban hành để bảo tồn và phát triển giá trị của lễ hội trong đời sống văn hóa nói chung của cộng đồng theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Để quản lý tốt lễ hội cần có sự hỗ trợ đắc lực của các mặt quản lý khác như: quản lý di tích và đất đai hay cảnh quan di tích, quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường nơi diễn ra lễ hội.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành trong tổ chức và quản lý sẽ tạo hiệu quả cao cho thành công của lễ hội, đảm bảo an toàn, lành mạnh và tiết kiệm, đồng thời bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng. Quản lý nhà nước về lễ hội còn giúp phát triển kinh tế- xã hội, mang lại lợi ích cho cộng đồng, phù hợp với đời sống văn hóa hiện tại. * Quản lý di sản văn hóa Theo Luật Di sản văn hóa: “. Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 1).
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền 14 miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” (Điều 4). Quản lý nhà nước về di sản văn hóa được quy định rất rõ tại điều 54 của Luật Di sản văn hóa: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch kế hoạch chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; Tuyên truyền phổ biến, giáo dục; Huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức và hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa. Điều 55, 56 quy định trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ UBND các cấp trong việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa.
Như vậy quản lý Nhà nước về di sản văn hóa là sử dụng cơ chế, chính sách thông qua bộ máy quản lý tác động có tính chất định hướng tới cộng đồng xã hội nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa. Thực chất của quản lý di sản văn hóa là bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc trên đất nước Việt Nam. Di tích và khu di tích, di tích quốc gia * Di tích Di tích là thành quả sáng tạo của con người trong quá trình dựng nước và giữ nước, tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể, phong phú và đa dạng về loại hình.