mở đầu cho sự phát triển mới trong tư duy giáo dục. Giáo dục đứng trước thử thách buộc phải phát triển với một trình độ mới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Bài học lịch sử của sự phát triển giáo dục được khơi dậy và nâng cao trên tầm tư duy mới. Đến Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nển giáo dục Việt Nam.
Đây là lần đầu tiên Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và ra Nghị quyết về sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Cũng từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo chúng ta thường gặp thuật ngữ “xã hội hóa” đối với các lĩnh vực hoạt động như chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể dục thể thao, giáo dục và đào tạo v. Cũng trong thời kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục đã bàn luận nhiều về XHHGD. Đặc biệt, tác giả Phạm Minh Hạc đã viết nhiều tài liệu về XHHGD, nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào XHHGD.
Trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” xuất bản năm 1997 do ông làm tổng chủ biên, đã khẳng định: “Xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta” (Phạm Minh Hạc, 1997). Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân (Phạm Minh Hạc, 1999). 8 Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” đã làm rõ nội hàm khái niệm xã hội hóa công tác giáo dục và coi xã hội hóa là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn, khái niệm đó lại được phát triển thêm, nội hàm phong phú hơn. Trong lời giới thiệu cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới” Phạm Tất Dong đã nhấn mạnh “phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hóa”.
Ông đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó là một tư tưởng chiến lược của Đảng, “tư tưởng đó được tổng kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “xã hội hóa” giáo dục được thừa nhận như là một nhân tố mới trong sự nghiệp giáo dục hiện nay. Hơn thế “với tư cách là nhân tố mới của sự phát triển giáo dục, tư tưởng “xã hội hóa” công tác giáo dục lại tạo ra những điều kiện để xuất hiện những nhân tố mới khác trong quá trình vận động đi lên của các phong trào giáo dục. Những điều kiện đó chính là những kinh nghiệm rút ra từ thực tế sinh động của giáo dục, trên cơ sở đó tư duy giáo dục trở nên sâu sắc, nhờ đó, nhiều bài toán giáo dục – đào tạo đã được giải một cách hợp lý (Tập thể tác giả, 1996).
Viện khoa học giáo dục đã triển khai khá nhiều năm một hệ thống đề tài về XHHGD, tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận, đề xuất cơ chế XHHGD. Năm 1999 cuốn sách “Xã hội hóa công tác giáo dục - Nhận thức và hành động” của Viện khoa học giáo dục do tập thể tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình, là một bước hoàn thiện về nhận thức lý luận và hướng dẫn thực tiễn. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có “Đề án XHHGD và đào tạo”, đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp XHHGD ở tầm vĩ mô, nhằm tạo ra những chuyến biến cơ bản trong giáo dục – đào tạo, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong hai chục năm đầu của thế kỷ XXI (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1998). Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Khoa học giáo dục năm 2001, từ góc độ giáo dục, cuốn sách “XHHGD” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể các tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Huy Ngận đã khẳng định: Xã hội hóa công tác giáo dục- một phương thức thực 9 sự giáo dục nhằm xã hội hóa cá nhân.
Lần đầu tiên cuốn sách với ý nghĩa một chuyên khảo đã đề cập đến đặc trưng của XHHGD ở các cấp học, bậc học và ở địa bàn nông thôn, vấn đề quản lý Nhà nước trong việc thực hiện XHHGD để có sự định hướng đúng đắn hoạt động XHHGD ở các nhà trường và địa phương. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 coi việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2011). Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đưa ra quan điểm chỉ đạo phát triển GD là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của ðảng, Nhà nước và của toàn dân.
ðồng thời cũng quy định trách nhiệm tham gia, đóng góp nguồn lực của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và gia đình tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, góp phần từng bước xây dựng xã học tập (Thủ tướng Chính phủ, 2012). Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 tại điều 13 quy định “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” và “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục”. Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tham gia của CMHS, cộng đồng của các tác giả khác đã tổng hợp những quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò và nhiệm vụ của gia đình, sự phối hợp của Nhà trường - Gia đình - Xã hội trong sự nghiệp GD học sinh: Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI” tác giả Phạm Minh Hạc khẳng định sự nghiệp GD của Việt Nam không phải chỉ do Nhà nước gánh vác, mà phải có sự chung sức của các LLXH cùng tham gia vào sự nghiệp GD nước nhà, tạo nên một xã hội học tập (Phạm Minh Hạc, 2009). - Võ Tấn Quang, trong cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quần chúng trong công tác GD, theo tác giả: XHH trong công tác GD là phải phát động phong trào quần chúng làm GD, huy động toàn xã hội tham gia sự nghiệp GD&ðT, hình thành và phát triển nhân cách 10 thế hệ trẻ (Võ Tấn Quang, 2001).
- Nguyễn Minh Phương “Đẩy mạnh XHHGD, y tế ở Việt Nam” đưa ra một số vấn đề lý luận về XHHGD, cùng kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động các nguồn lực xã hội, đồng thời cũng đưa ra các quy định hiện hành về XHHGD ở nước ta; thực trạng XHHGD và những vấn đề đặt ra cùng các quan điểm, giải pháp đẩy mạnh XHHGD (Nguyễn Minh Phương, 2012). Những nghiên cứu trên đây đã cung cấp cho tác giả cái nhìn tổng quan về công tác XHHGD. Mỗi đề tài có các tiếp cận riêng tùy vào tình hình và đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Đây là cơ sở để người nghiên cứu tham khảo và kế thừa những giá trị đã được khẳng định, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Có nhiều quan điểm tiếp cận quản lý (QL) như: quan điểm tiếp cận lịch sử, tiếp cận phân tích tổng hợp, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận hệ thống. - Tác giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường (Nguyễn Ngọc Quang, 2001). - Xét QL với tư cách là một hành động, tác giả Vũ Ngọc Hải cho rằng: QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra (Vũ Ngọc Hải - Trần Khánh Đức, 2003).Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”.
Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Công tác QL lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là việc thực hiện hai quá trình liên hệ chặc chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình 11 “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” gồm những việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ phát triển”. Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu định ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả.
Như vậy, QL không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật trong đó hoạt động QL vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi. chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất. Quản lý giáo dục Theo P.