Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non. Chương 2: Thực trạng quản lý tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Chương 3: Biện pháp quản lý tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động vui chơi ở trường mầm non Vào thời Khổng Tử, ông đã có phương pháp giáo dục, học là phải luyện tập thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng. Qua nhận định “Học mà cứ thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thỏa thích hay sao?” và học phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc còn nhỏ “tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”. Với phương pháp này ông muốn những nhà giáo dục phải thường xuyên tổ chức phương pháp luyện tập trong quá trình giáo dục con người [19].
Cômenxki (1592 - 1670) đã đặt cơ sở cho khoa học sư phạm. Ông cho rằng nguyên tắc phù hợp với tự nhiên là nguyên tắc cơ bản của công tác giáo dục. Theo ý kiến của ông, để giáo dục đạt được kết quả tốt nhà sư phạm cần nghiên cứu những quy luật tự nhiên và đi theo các quy luật của tự nhiên của sự hình thành nhân cách trong tổ chức các hoạt động cho trẻ. Ông nhấn mạnh đến tự nhiên bao quanh con người, tổ chức các HĐVC theo hướng hòa nhập với môi trường tự nhiên xung quanh trẻ để giúp trẻ phát triển nhân cách.
Cho đến nay, nguyên tắc phù hợp với tự nhiên do Cômenxki nêu lên vẫn giữ được ý nghĩa của nó. Với trẻ em, chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển khả năng suy nghĩ và giao tiếp. Nhà tâm lý học Lêônchiev khẳng định: Hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Thông qua trò chơi giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lý mới trong nhân cách của trẻ.
Hoạt động chơi tạo ra những biến đổi về chất, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo và chơi là tiền đề cho hoạt động học tập ở lứa tuổi tiếp theo [1]. 6 Maria Montessori (1896 - 1952) là bác sĩ, nhà tâm lí giáo dục của nước Ý đã dựa trên nền tảng của tâm lí học phát triển và cho rằng trẻ em là một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọn nội dung và tiến hành hình thức học tập của mình một cách độc lập. Hình thức học này gọi là “hoạt động tự do”, “vui chơi tự do”. Trong quá trình CSGD trẻ em bà đưa ra tám nguyên tắc GD cơ bản.
Trong đó nguyên tắc “vui chơi và nhận thức” được nhắc đến đầu tiên. Bà nhấn mạnh trẻ chỉ được phát triển khi trẻ vui chơi, bà cho rằng vui chơi và nhận thức có mối quan hệ với nhau, suy nghĩ và vui chơi là một quá trình, GD nên tăng cường các hoạt động vui chơi để mở đường cho hoạt động nhận thức của trẻ (dẫn theo, [17]). Spodek (1990) nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì “học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp. Nội dung chương trình (học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy (dạy như thế nào), môi trường (hoàn cảnh học) và các chiến lược đánh giá (cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại với nhau và tạo nên chương trình GDMN (Brekdekamp, 1992).
Tác giả Tina Bruce (1991) chuyên gia GDMN của Úc đã nghiên cứu và tóm tắt về giá trị của việc chơi đùa như sau: “Các nghiên cứu về não bộ, cũng như nghiên cứu trong các lĩnh vực khác đã cho thấy ngày càng rõ hơn về nhu cầu được vui chơi của tuổi thơ. Chơi đùa đóng vai trò là cơ chế tiếp sức cho những suy nghĩ mang tính can đảm, sáng tạo và nghiêm túc ở tuổi trưởng thành” (dẫn theo [17]). Trong cuốn “Hướng dẫn tổ chức HĐVC”, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc (1981) đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan hệ trong trò chơi của trẻ. Đó là: chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh nhau, chơi với nhau trong một thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở hứng thú với nội dung chơi.
Tác giả khẳng định kết quả của hai mức độ cuối phụ thuộc vào kỹ năng hướng dẫn trẻ chơi của mỗi GV [12]. 7 Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường mẫu giáo” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng đã có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau” và “GV phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ” [16]. Trong cuốn “Tổ chức, hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi”, các tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ và nhấn mạnh “Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức cuộc sống của trẻ” [24]. Trong Tài liệu bồi dưỡng CBQL và GVMN (2006), Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng giáo dục và phát triển trẻ toàn diện, GV cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chương trình GDMN” [6].
Những nghiên cứu về quản lý tổ chức hoạt động vui chơi ở trường mầm non Trong “Sổ tay hiệu phó chuyên môn”, tác giả A.Vaxiliepva đánh giá rất cao tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ. Tác giả cho rằng muốn quản lý tốt hoạt động này thì người quản lý phải quan sát và phân tích được HĐVC của trẻ và nắm vững đặc điểm riêng biệt của các trò chơi thì mới bồi dưỡng tốt cho GV về công tác tổ chức HĐVC. Tác giả nhấn mạnh “Quan sát và phân tích HĐVC đó là một việc rất phức tạp. Điều này gắn liền với ý nghĩa của trò chơi trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo, với vị trí của nó trong quá trình giáo dục ở trường mầm non, với những thể loại trò chơi khác nhau cùng những đặc điểm riêng biệt.
Nếu người lãnh đạo nắm vững đặc điểm riêng biệt này thì việc phân tích HĐVC sẽ được sâu sắc hơn và có thể giúp đỡ các cô giáo mẫu giáo một cách kịp thời” [2]. 8 Tác giả Đào Thụy Xuân Thảo với đề tài “Giải pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các trường mầm non quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh” đã nghiên cứu ở các trường mầm non quận Tân Bình về vấn đề quản lý chương trình giáo dục mầm non đã khẳng định: Nói đến chất lượng chăm sóc giáo dục ở các trường mầm non là nói đến công tác nuôi và dạy. Nói đến công tác nuôi và dạy ở các trường mầm non là nói đến việc thực hiện chương trình giáo dục. Muốn nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, yếu tố quản lý việc thực hiện chương trình phải được quan tâm hàng đầu.
Quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non đạt hiệu quả tốt, thầy dạy tốt, tất nhiên chất lượng trò, sản phẩm đầu ra đạt tốt, hoàn thành mục tiêu đào tạo ngành giáo dục và xã hội giao phó. Nguyễn Thị Thanh Xuân: “Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới ở các trường mầm non thành phố Hải Phòng”, năm 2012. [31] Bùi Mỹ Liên: “Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục mầm mon tại các trường mầm non quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh”, năm 2012.
[20] Có thể nhận thấy, những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra ý nghĩa của HĐVC đối với trẻ mẫu giáo và công tác quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo trong mối quan hệ với quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non. Các nghiên cứu về tổ chức HĐVC đã được thực hiện song còn ít, đặc biệt là các nghiên cứu quản lý HĐVC của trẻ mầm non tại thành phố Cao Bằng chúng tôi được biết chưa có nghiên cứu nào thực hiện. Chính vì vậy, chúng tôi nhận thấy đây là vấn đề cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Quản lý Quản lý không chỉ là một dạng hoạt động cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại. Chính vì thế, lý luận về quản lý ngày càng phát triển phong phú. 9 Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý: Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau nó bảo toàn cầu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục tiêu hoạt động. Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó: Quản lý được hiểu là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với những hoàn cảnh mới.
Quản lý là một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến. Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội. Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể quản lý.