Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN NGHỀ CHO HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, những nghiên cứu về hoạt động TVN và quản lý hoạt động TVN đã sớm nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia như: Anh, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc. và theo có ba xu hướng chính là: (1) Nghiên cứu lý thuyết TVN, (2) Nghiên cứu thực hành TVN và (3) Nghiên cứu về đào tạo các nhà TVN.
- Hướng nghiên cứu lý thuyết hoạt động TVN TVN hay còn gọi là tư vấn hướng nghiệp dựa trên những đặc điểm nhân cách HS và đại diện đầu tiên của trường phái này là F.Parsons (1909), Ông cho rằng, nhà tư vấn giúp những cá nhân nhận thức về đặc điểm từng nghề của thế giới nghề, sau đó kết hợp những đặc điểm nhân cách cá nhân với đặc điểm của nghề, từ đó có hành vi lựa chọn được nghề phù hợp. Williamson (1939-1965) đã tiếp tục lý thuyết của F.Parson và phát triển một thang đo có tên là thang đánh giá nghề nghiệp (Minnesota Occupational Rating Scales) nhằm phục vụ cho việc đo lường. Theo các tác giả trên, việc tiến hành làm các trắc nghiệm được coi là một việc làm quan trọng và cơ bản nhất, từ kết quả trắc nghiệm, nhà tư vấn đưa ra lời khuyên cá nhân nên chọn nghề nào phù hợp [dẫn theo 29]. Tác giả Ann Roe (1956) dựa trên cách tiếp cận nhu cầu của Maslow (1954) được coi là đại diện tiếp theo của trường phái này.
Roe nhấn mạnh sự tương tác giữa con người và môi trường trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp. Xuất phát từ quan điểm của trường phái phân tâm học nên bà cho rằng những kinh nghiệm từ thuở ấu thơ sẽ liên quan chặt chẽ đến việc lựa chọn nghề nghiệp sau này, và vô thức có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định nghề 7 nghiệp. Việc lựa chọn nghề nghiệp sẽ giúp mỗi cá nhân thoả mãn nhu cầu của bản thân mình [40, tr.Platonop (1960) [dẫn theo 29, tr.80] với quan niệm về “Tam giác hướng nghiệp”. Ba cạnh của hướng nghiệp được xác định là (1) đặc điểm, yêu cầu của các ngành nghề trong xã hội, (2) nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, (3) đặc điểm về nhân cách, tâm sinh lý của cá nhân.
Khi cá nhân tìm được sự phù hợp cả ba cạnh của tam giác, khi đó tìm được sự lựa chọn nghề tối ưu. Tóm lại, cách tiếp cận dựa trên lý thuyết đặc điểm nhân cách là một lý thuyết tĩnh, quá trình tư vấn là chỉ dẫn cho cá nhân lựa chọn một nghề dựa trên sự phù hợp giữa đặc điểm nhân cách với yêu cầu công việc. Lý thuyết này chưa giải thích về những đặc điểm như: hứng thú, giá trị, năng lực, thành tích, tính cách phát triển và sự thay đổi đó có ảnh hưởng gì đến quá trình học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân. - Hướng nghiên cứu về thực hành TVN Vào cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX là giai đoạn đầu của công tác hướng dẫn nghề, sau đó là TVN với sự phát triển của phong trào sử dụng các thang đo - trắc nghiệm.
tác giả Francis Galton người Anh (1974) đã nghiên cứu về nguồn gốc năng lực con người. tác giả Wilheim Wundt thành lập một phòng thực nghiệm ở Leizig (Đức) để nghiên cứu về hành vi con người. Ở Pháp, các tác giả Alfred Binet và V.Henri (1986) viết bài báo miêu tả những khái niệm đo lường tâm thần. Những nghiên cứu khác nhau về con người xoay quanh sự chú ý của chúng ta tới điều kiện sống và công việc trong xã hội thay đổi bởi cuộc cách mạng công nghiệp [dẫn theo 34].
Cùng với việc ứng dụng rộng rãi các công cụ đo lường trong TVN, thì việc thành lập các phòng TVN đã làm cho nó trở thành một dịch vụ xã hội. Trong việc ứng dụng TVN vào thực tiễn cuộc sống. Ở Hoa Kỳ được biết đến như là quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này. Phòng TVN đầu tiên trên thế giới đã được Frank Parsons thành lập ở Boston (Mỹ) vào năm 1908.
Những ý 8 tưởng của F.Parsons trong công tác TVN đến nay vẫn được coi là nguyên tắc trong công tác tư vấn. Công việc này cần phải có một người hướng dẫn chuyên nghiệp, một người hướng dẫn tốt không thể đưa ra các quyết định cho người khác, vì tự mỗi người mới biết phải quyết định điều gì tốt nhất cho chính bản thân mình. Tiếp đó là Bernard Haldane (1947) đã thành lập công ty tư vấn chuyên nghiệp với nhiệm vụ là cung cấp dịch vụ tư vấn cho những người đi tìm việc. Ý tưởng giúp cá nhân phát huy những điểm mạnh đó là năng lực, năng khiếu, tài năng của bản thân để đạt hiệu quả cao trong quá trình tìm kiếm việc làm [dẫn theo 29].
Việc ra đời hàng loạt những tài liệu, ấn phẩm, sách, tạp chí có liên quan đến tư vấn hướng nghiệp là thể hiện sự quan tâm rộng rãi của xã hội đối với lĩnh vực này. Những tài liệu hướng dẫn cá nhân những cách thức, kỹ năng để lựa chọn nghề và tìm việc. Sách tìm việc lần đầu tiên được xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1936 với tên là khả năng việc làm của bạn: Cách thể hiện và áp dụng chúng qua một số điểm mạnh của con người, được viết bởi Alphonso William Rahn.Trong đó Rahn chỉ ra tiến trình tìm việc sáng tạo và Phương pháp tìm việc sáng tạo được sử dụng cho đến ngày nay. Đến năm 1942, Sidney Fine đã xây dựng những kỹ năng cụ thể dành cho những người xin việc, công việc này có ý nghĩa rất lớn đối với những người lao động chuyển đổi nghề.
Những kỹ năng này có thể được đào tạo và huấn luyện được [dẫn theo 29]. Bên cạnh đó, việc sử dụng trắc nghiệm khách quan có thể giúp người được tư vấn biết được về cơ bản cá nhân có hợp (hay không hợp) với nghề định chọn. Kết quả trắc nghiệp là cơ sở khoa học để TVN, góp phần hỗ trợ cho HS tự hiểu mình một cách khách quan hơn, từ đó biết chọn học ngành nghề nào cho phù hợp, đồng thời tránh chọn lầm nghề. Một số trắc nghiệm được các nhân 9 viên TVN khuyên dùng là IQ test (chỉ số trí tuệ - Intelligence Quotient), EQ test (đo chỉ số cảm xúc - Emotion Quotient), AQ test (đo chỉ số vượt khó - Adversity Quotient), CQ test (đo chỉ số sáng tạo - Creation Quotient).
Cùng với các trắc nghiệm chuyên biệt như: Trắc nghiệm nghiên cứu kiểu nhân cách của H.Eysenck, trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của J.Raven, trắc nghiệm đánh giá trí tuệ tổng quát của David Wechsler, V. Zakharov với trắc nghiệm khả năng giao tiếp, M. Luscher với phương pháp nghiên cứu nhân cách, A.Golomstoc nghiên cứu hứng thú học sinh bằng angket, E.Klimop với “Bản xác định kiểu nghề cần chọn trên cơ sở tự đánh giá”, John Holland với trắc nghiệm RIASEC. Theo các nhà tư vấn tâm lý, việc sử dụng trắc nghiệm trong tư vấn hướng nghiệp cho HS, nhất là HS cấp THPT được xem như là một công cụ hỗ trợ và tạo tính thuyết phục cao hơn trong công tác hướng nghiệp, giúp các em tìm hiểu và khám phá bản thân một cách kỹ lưỡng hơn.
Tuy trắc nghiệm có rất nhiều ưu điểm và tính hiệu quả, nhưng cũng không thể coi đó là một nhân tố duy nhất và quan trọng nhất trong TVN cho HS. Việc TVN còn phải tính đến rất nhiều yếu tố như: hoàn cảnh cá nhân, gia đình, môi trường sống, điểm số học tập trên lớp, điểm chuẩn của các trường đại học… TVN đáp ứng việc trợ giúp cá nhân có những công việc phù hợp nhất với khả năng của họ. Tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức và các nước phát triển, TVN đã có khung pháp luật quy định hoạt động rõ ràng, đó là một hoạt động bắt buộc phải thực hiện nghiệm túc. Ngày nay, công việc này đã trở thành một công việc bắt buộc trong trường phổ thông của nhiều quốc gia trên thế giới.
Những mô hình thực hành TVN của Hoa Kỳ và châu Âu đã ảnh hưởng rộng rãi sang các nước châu Á, châu Á - Thái Bình Dương và ở những quốc gia này lĩnh vực này ngày càng được quan tâm và phát triển. - Hướng nghiên cứu về đào tạo các nhà TVN Công tác đào tạo nhà TVN đã được người Hoa Kỳ quan tâm ngay từ những năm đầu tiên khi chuyên ngành này ra đời. Năm 1907, Jesse Davis đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan. Hoạt 10 động này dần chuyên nghiệp hơn, quyển từ điển về tên nghề đầu tiên ra đời (DOT-the Dictionary Occupational titles).
DOT trở nên vô cùng quan trong cho người tìm việc, người thay đổi nghề nghiệp, nhà tư vấn và có cả một danh mục tên nghề mới nhất (thời điểm đó) để chọn [29], [31]. Ngày nay, chương trình đào tạo nhà tư vấn đất nước này thường rất chi tiết và đa dạng tùy theo từng bang và các ngành tư vấn khác nhau. Một người muốn trở thành một nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp phải có bằng thạc sĩ, đảm bảo về chương trình lý thuyết và thời gian thực tập nội trú dưới sự kiểm soát của một nhà tư vấn (tham vấn) học đường có uy tín. Hơn nữa, để được chứng nhận là nhà tư vấn, ngoài việc có bằng thạc sĩ còn phải có 3 năm kinh nghiệm làm việc được giám sát ở cơ sở.
Theo Ủy ban cấp chứng chỉ hành nghề về chương trình đào tạo nhà tư vấn (CACREP, 2009 Standards), những sinh viên muốn trở thành nhân viên tư vấn hướng nghiệp phải có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thực tiễn cần thiết để trợ giúp một người phát triển kế hoạch nghề nghiệp cuộc đời. Họ đáp ứng được những yêu cầu về các mặt kiến thức, kỹ năng và thực tế về cơ sở ngành như các lý thuyết, đạo đức nghề nghiệp, các chính sách pháp luật; về tư vấn, phòng ngừa và can thiệp; sự đa dạng về văn hóa, xã hội và các mối quan hệ có ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp; đánh giá trong quá trình tư vấn; việc nghiên cứu và đánh giá tổng thể quá trình tư vấn; chương trình xúc tiến quản lý và thực hiện, cũng như các thông tin về nguồn tài nguyên hữu ích cho sự lựa chọn và thăng tiến trong nghề nghiệp…Nhà tư vấn khi bước đầu thực hiện nghề sẽ được nhà tuyển dụng đào tạo và trong công việc, họ thường phải tham gia các chương trình đào tạo, hội thảo, tự nghiên cứu nhằm duy trì được trình độ của mình và đáp ứng yêu cầu công việc.