chương I, điều 4 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên…” [25]. Rất nhiều nhà giáo dục Việt Nam nghiên cứu về tự học như Đặng Vũ Hoạt, Lê Khánh Bằng, Hà Thị Đức, Thái Duy Tuyên, Võ Quang Phúc, …trong đó phải nói đến Nguyễn Cảnh Toàn đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự học cả trên phương diện lí luận và thực tiễn. Nguyễn Cảnh Toàn đã phân tích các vấn đề của tự học trong tác phẩm “Quá trình dạy – tự học” như khái niệm, phương pháp, mô hình, chu trình dạy, tự học. Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: Tự học là 11 “nội lực” phát triển bản thân người học, tác động của thầy là “ngoại lực” đối với sự phát triển của bản thân người học.
Kết hợp quá trình dạy và quá trình tự học là quá trình kết hợp giữa ngoại lực và nội lực cộng hưởng với nhau tạo ra chất lượng và hiệu quả cao [19]. Rõ ràng, vấn đề tự học không phải là vấn đề mới mẻ trong lý luận và thực tiễn dạy học, nó đã được các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới cũng như ở Việt Nam đề cập từ lâu. Việc quản lý hoạt động tự học cũng đã có những công trình nghiên cứu như “Quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh” (Luận văn thạc sĩ của Lê Khắc Mỹ Phượng) [20].; “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trường sĩ quan lục quân 2” (Luận văn thạc sĩ giáo dục học của Trần Bá Khiêm) [13]. Các công trình nghiên cứu ở Lào Ở CHDCND Lào, vấn đề tự học cũng đã được quan tâm nhưng chưa trở thành hệ thống và đến năm 1975, khi đất nước được giải phóng thì vấn đề này mới được bàn đến một cách cụ thể hơn.
Trong quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng dạy – học hiện nay, có nhiều phương pháp dạy học mới được đưa vào sử dụng và phải kể đến là phương pháp lấy người học làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, trong đó phải nói đến kỹ năng và phương pháp tự học của các em. Nội dung tự học thường được đưa lồng ghép vào các giáo trình phương pháp giảng dạy các bộ môn ờ trường Cao đẳng và Đại học của Lào. Ngoài ra, vấn đề tự học cũng như công tác quản lý hoạt động tự học của học sinh chưa được nhiều tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu. Đến hiện nay, đã có tác giả Keopaseuth PhouVa nghiên cứu về hoạt động tự học của học sinh [12].
Trong luận văn, tác giả nêu lên thực trạng quản lý hoạt động, đánh giá để từ đó đưa ra 10 biện pháp quản lý hoạt động tự học học sinh THCS ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Savannakhet. 12 Luận án “Quản lý hoạt động tự học của lưu học sinh nước CHDCND Lào tại Việt Nam” đã đề xuất và xây dựng và đề xuất được các cơ chế quản lý HĐTH và mô hình tổ chức tự học (học ở nhà dân, đôi bạn cùng tiến, vui học Tiếng Việt,…) phù hợp với du học sinh Lào, từ đó xây dựng và đề xuất Bộ tiêu chí để đánh giá hiệu quả quản lý HĐTH của du học sinh Lào tại Việt Nam [22]. Nhận xét chung, các tác giả nêu trên đã tập trung nghiên cứu những vấn đề, những mặt, những nội dung khác nhau của công tác quản lý HĐTH trên nhiều đối tượng khác nhau. Mỗi công trình, đề tài hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý HĐTH của các đối tượng được khảo sát và đánh giá thực trạng, hiệu quả công tác này tại một số trường.
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu nêu trên chưa tập trung nghiên cứu công tác quản lý HĐTH tại trường THCS nội trú tại thủ đô Viêng Chăn – Nước CHDCND Lào. Các khái niệm cơ bản 1.1 Tự học Hiểu theo cách thông thường, tự học là tự mình thực hiện việc học. Theo Nguyễn Cảnh Toàn và một số tác giả khác thì tự học được hiểu ở nhiều bình diện khác nhau, cụ thể: - “Tự học là vận dụng kiến thức cũ, kĩ năng cũ để trở thành phương tiện củng cố kiến thức mới, kĩ năng mới thành thạo. Nghĩa là phải tư duy để đi từ kiến thức cũ đến kiến thức mới” [24, tr.
- “Tự học là biết cách tập làm các thao tác tư duy để rèn luyện tư duy, biết tự phê bình và sửa chữa để phấn đấu nâng cao các phẩm chất, tự mình chiếm lĩnh kiến thức, tự mình phát triển kiến thức” [24, tr. - Tự học là quá trình cá nhân chủ động tiến hành hoạt động nhận thức có hệ thống để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại và biến lĩnh vực đó thành sở hữu của riêng mình. Cốt lõi của hoạt động học là tự học, học bằng hình thức nào muốn thành công cũng phải tự học, không ai học hộ mình cả [23]. 13 - Còn Võ Quang Phúc lại xem xét tự học trong quan hệ với dạy học nên cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học.
Tự học phản ảnh rõ những nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ảnh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với một nội dung học tập nhất định” [20]. Qua các quan niệm về tự học đã nêu trên, theo chúng tôi tự học là tự giác, tích cực, độc lập và tự chủ cao trong việc chiếm lĩnh kiến thức khoa học và hình thành nhân cách cho bản thân.Như vậy, quá trình tự học là quá trình kết hợp sự nỗ lực của người học, chủ yếu là nỗ lực tư duy với sự tranh thủ tận dụng, khai thác của người học đối với những nguồn lực ngoài. Hoạt động dạy học, hoạt động tự học 1. Hoạt động dạy học Theo Từ điển Bách khoa Tâm lý học – Giáo dục học Việt Nam : Dạy học là sự truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người đã tích lũy từ các thế hệ trước, là dạng hoạt động quan trọng nhất và chiếm nhiều thời gian nhất của nhà trường [7].
Theo tác giả Trần Thị Hương, “Hoạt động dạy học là hoạt động tương tác, phối hợp và thống nhất giữa hoạt động chủ đạo của giáo viên và hoạt động tự giác, tích cực, chủ động của học sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học” [11]. Đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy học bao gồm: - Hoạt động dạy học là HĐ “kép” gồm 2 HĐ: HĐ dạy của giáo viên và HĐ học của HS. Trong đó, HĐ dạy của GV đóng vai trò chủ đạo; HĐ học của HS đóng vai trò chủ động. Nếu thiếu một trong hai hoạt động này thì hoạt động dạy học không diễn ra.
- HĐ dạy của GV và HĐ học của HS tồn tại trong mối quan hệ tương tác, biện chứng. 14 - HĐ dạy của GV và HĐ học của HS thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu dạy học: HS lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, giáo dục thái độ, phát triển toàn diện nhân cách. Như vậy, hoạt động dạy học là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng, thái độ cho HS, dưới sự hướng dẫn của GV thông qua những PPDH thích hợp. Hoạt động tự học Theo tác giả Lưu Xuân Mới, “Tự học là quá trình tự tìm lấy kiến thức, kỹ năng, thái độ một cách tự giác, tích cực, tự lực và sáng tạo bằng sự nỗ lực hành động của chính mình hướng tới những mục tiêu nhất định” [16].
Tác giả Nguyễn Kỳ đã bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [14]. Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy” [10]. Hoạt động tự học của học sinh nội trú Những quan điểm trên về tự học tuy khác nhau nhưng đều chung bản chất đó là sự tự giác và sự kiên trì cao; sự tích cực, độc lập và sáng tạo của người học trong học tập.
Do đó, có thể khái quát chung: Tự học là hoạt động độc lập, chủ yếu mang tính cá nhân của người học trong quá trình nhận thức, học tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của quá trình đào tạo. Trong môi trường nội trú, thời gian dành cho học tập và sinh hoạt ngoài giờ chính khoá chiếm phần lớn thời gian đào tạo. Trong các dạng hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khoá như vui chơi, văn hoá văn nghệ, thể thao, sinh hoạt 15 câu lạc bộ, tham quan, học tập ngoại khoá thì HĐTH nhằm củng cố, bổ sung, nâng cao, mở rộng kiến thức đã học, phát triển hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh. Như vậy, môi trường tự học hoàn toàn thuận lợi dưới sự quản lý, tổ chức điều khiển thống nhất ở các địa điểm nhất định [12].
Kho tàng tri thức của xã hội loài người rất phong phú và đa dạng, đòi hỏi của xã hội đối với học sinh rất lớn, nhà trường không thể dạy hết cho học sinh được. Vì vậy, nhà trường coi tự học, tự đào tạo là phương thức tạo ra chất lượng thực sự, lâu bền của quá trình giáo dục - đào tạo. Tự học đối với học sinh là một nhiệm vụ không thể thiếu được khi đất nước và thế giới đang trong đà phát triển như vũ bão.