Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh ở trường Tiểu học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường Tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường Tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Phần 3: Kết luận và Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề phát triển con người toàn diện luôn được sự quan tâm của các nhà giáo dục nổi tiếng trong từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Trong chương trình giáo dục của mỗi nước, bên cạnh các hoạt động dạy và học qua các môn học còn có chương trình hoạt động. Học sinh thông qua các hoạt động đa dạng và phong phú ngoài các giờ học gắn với thực tiễn để trải nghiệm.
Thông qua các hoạt động, học sinh vừa được củng cố kiến thức đã học, vừa có cơ hội sáng tạo vận dụng do yêu cầu của các tình huống cụ thể. Ở một số nước tiên tiến trên Thế giới như nước Anh: “Chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi học sinh ứng dụng nhiều tri thức, kỹ năng cho phép học sinh sáng tạo và tư duy, dám ngh , dám làm”. Ở Hàn Quốc: “Mục tiêu hoạt động trải nghiệm hướng đến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo”. Giáo dục Nhật Bản: “Chú trọng việc nuôi dư ng cho trẻ năng lực ứng phó với sự thay đổi của xã hội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích trẻ sáng tạo”.
Có thể thấy đây là những kinh nghiệm quý giá để chọn lọc, vận dụng phù hợp vào bối cảnh Việt Nam nhằm đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu mới. HĐTN ở mỗi quốc gia trên thế giới có thể khác nhau về nội dung, khác về hình thức, song đều có chung mục đích là hướng tới phát triển toàn diện nhân cách của người học. Bởi vậy, không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức có trong sách vở mà còn phải rèn luyện cho người học k năng sống, k năng thực tế. Muốn đạt được mục tiêu GD trên, GD không chỉ bó hẹp trong giới hạn giờ học trên lớp mà còn cần tới các loại hình HĐ mang tính trải nghiệm với những nội dung phong phú, đa dạng thu hút người học tích cực tham gia.
Tư tưởng GD này đã được các nhà GD lớn trên thế giới đề cập đến như: Kurt Lewin, John Dewey, David Kolb,… Lý thuyết học qua trải nghiệm do David Kolb đề xuất là sự kế thừa và phát triển lý thuyết học tập qua kinh nghiệm của John Dewey, của Kurt Lewin và dựa trên cơ sở các lý thuyết tâm lý học về sự phát sinh, phát triển trí tuệ cá nhân của J. Vygotxki và các nhà tâm lý học khác. Kolb nhấn mạnh kinh nghiệm đóng vai trò trung tâm trong quá trình học “Học tập là quá trình mà kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm. Kết quả của kiến thức là sự kết hợp giữa nắm bắt kinh nghiệm và chuyển đổi nó”.
Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam tư tưởng giáo dục toàn diện của Hồ Chí Minh và của Đảng ta là kim chỉ nam cho việc phát triển giáo dục. Để chỉ rõ phương pháp đào tạo nên những người tài đức, thì ngay trong thời kì đầu của nền giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Bộ Giáo dục đã định hướng các trường thực hiện các HĐTN trong hoạt động dạy học và giáo dục. Hoạt động trải nghiệm sẽ là môi trường để giúp học sinh trải nghiệm tất cả những gì được học từ các môn học, chủ đề hay l nh vực, giúp vận dụng kiến thức có được từ nhà trường vào thực tiễn cuộc sống và cũng thông qua đó, những năng lực gắn với cuộc sống được hình thành.
Nói cách khác là: “ Đào tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống”. Hiện tại đã có khá nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến hoạt động trải nghiệm nói chung. Tuy nhiên về quản lý HĐTN thì chưa được đề cập có hệ thống. Một số công trình nghiên cứu về lý luận dạy học cũng đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo.
Người đầu tiên nghiên cứu phát triển ứng dụng Lý thuyết hoạt động vào nhà trường chính là tác giả Phạm Minh Hạc. Theo ông, thông qua hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành và phát triển. Như vậy, trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc l nh hội tri thức, k năng, k xảo, l nh hội các giá trị xã hội là hoạt động của người học. Con người có tự hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân “Hoạt động không chỉ rèn luyện trí thông minh bằng hoạt động, mà còn thu hẹp sự cư ng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao [7].
Trong nước, thời gian qua cũng có nhiều bài báo, bài nghiên cứu khoa học về tình hình học tập trải nghiệm sáng tạo như: Kỉ yếu hội thảo: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông và mô hình phổ thông gắn với sản xuất kinh doanh tại địa phương” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã thu hút rất nhiều bài viết của các tác giả trong cả nước, nhiều tác giả gửi đến hội thảo, trong số đó có một số bài viết hay, đã đề cập ở mức độ nóng vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh. Trong bài viết “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới”, tác giả Lê Huy Hoàng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội có đề cập tới quan niệm về hoạt động trải nghiệm sáng tạo là: hoạt động xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để học sinh tự trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê; bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tôt nhất mục tiêu giáo 17 dục”. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam”. Trong đó, tác giả giới thiệu kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong giáo dục phổ thông ở Anh và Hàn Quốc.
Đây đều là những nước đã đưa hoạt động trải nghiệm sáng tạo vào chương trình đào tạo từ sớm và đạt được những kết quả to lớn. Từ đó tác giả đưa ra kết luận: “Lâu nay chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý đúng mức; chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục. Chưa xây dựng được một chương trình hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú và chi tiết với đầy đủ các thành tố của một chương trình giáo dục. Chưa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một cách phù hợp [11].
Quản lý là những tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đảm bảo sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với qui luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể quản lý. Tóm lại, vấn đề hoạt động học tập thông qua trải nghiệm không phải là vấn đề mới với nhiều nước trên thế giới, nhưng với Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ. Các tài liệu nghiên cứu, tác phẩm, luận văn, luận án chủ yếu tập trung khai thác cách thức tổ chức và vận dụng HĐTN vào giảng dạy. Tuy nhiên, xét trên phạm vi tại Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, đặc biệt là tại Thành phố Thủ Dầu Một, thì vấn đề nghiên cứu quản lý hoạt động trải nghiệm theo danh ngh a một công trình khoa học chưa nhiều, mà nghiên cứu mới chỉ dừng ở dạng một vài chuyên đề, tham luận,…tại một vài hội nghị, tập huấn.
Với những đặc thù cơ bản về địa lý, văn hóa, về đội ngũ giáo viên và học sinh của Bình Dương, và đặc biệt là những đặc thù về công tác quản lý hoạt động trải nghiệm của học sinh tiểu học đã thôi thúc tác giả nghiên cứu đề tài này. Chính vì vậy, trong luận văn này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý HĐTN cho học sinh các trường tiểu học ở Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1. Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [18].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ 18 chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [14]. Nguyễn Bá Sơn trong tác phẩm “Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý” có nêu: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [15]. Trong từ điển Giáo dục định ngh a: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Các hình thức chức năng chủ yếu của quản lý bao gồm: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo hoặc lãnh đạo và kiểm tra” [9].
Trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học, Trần Kiểm đã viết: “Quản lý là nhằm phối hợp nổ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [10].