CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ CHUYÊN MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG HỌC TẬP 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Phù hợp với xu hướng chung của toàn cầu, Việt Nam đang thực hiện phân cấp trong hệ thống giáo dục. Trong khoảng thời gian dài, giáo dục Việt Nam được tổ chức nguyên tắc tập quyền, theo đó, chương trình giảng dạy và kế hoạch giáo dục được quy định từ trên xuống và áp dụng trên toàn quốc. Tuy nhiên, giáo dục Việt Nam đã có sự thay đổi trong việc phân cấp quản lí giáo dục với Hướng dẫn số 791 / HD-BGDĐT (Bộ GD & ĐT, 2013) về Thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh, theo đó, khuyến khích các trường phổ thông xây dựng chương trình nhà trường đáp ứng nhu cầu của các đối tượng học sinh [5].
Sau đó, Nghị quyết số 88/2014 / QH13 (Quốc hội Việt Nam, 2014) về “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông” được thông qua đã nêu rõ hệ thống giáo dục cần chú trọng phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh gắn liền với định hướng nghề nghiệp; đồng thời khuyến khích các tổ chức giáo dục đủ điều kiện biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa dựa trên chương trình mới [16]. Tiếp theo đó, năm 2016, Quyết định số 1982 / QĐ-TTg (VPM, 2016) về Khung trình độ quốc gia Việt Nam ra đời, tạo nền tảng xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam (Bộ GD & ĐT, 2018)[18]. Tất cả những chính sách này đã đánh dấu những thay đổi cơ bản trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, đặc biệt là quá trình phân cấp trong quản lí giáo dục. Hơn nữa, Đề án đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam với chính sách một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa đã mang đến sự thay đổi lớn, chấm dứt thời kỳ gần 50 năm (kể từ năm 19 1970) việc thực hiện một chương trình, một bộ sách giáo khoa trong cả nước.
Với chương trình mới, hiện nay các nhà trường và các nhà giáo dục đã có quyền tự chủ hơn trong việc lựa chọn sách giáo khoa cũng như thoải mái, linh hoạt hơn để sáng tạo trong hoạt động dạy và học. Các nghiên cứu chỉ ra “chất lượng của hệ thống giáo dục không thể vượt quá chất lượng của giáo viên” (Barber & Mourshed, 2007) trong các nhân tố trong nhà trường ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, GV có vai trò ảnh hưởng lớn nhất (Hattie, 2012). Chính vì thế, tại Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng quan tâm, tạo điều kiện để phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Một trong những nội dung của Đề án là phát triển chuyên môn thường xuyên cho giáo viên để có thể đủ năng lực đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới.
Trong bối cảnh này, việc thúc đẩy học tập của GV, tăng cường năng lực chuyên môn là một việc làm vô cùng cần thiết”. Quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục yêu cầu GV phải tăng cường phát triển chuyên môn để đáp ứng mục tiêu giáo dục mới, chính điều này đã thúc đẩy nhu cầu nghiên cứu về lĩnh vực học tập chuyên môn của GV [16]. Dựa trên những quy định và cơ lý luận, các tác giả có những nghiên cứu tiêu biểu về hoạt động của tổ chuyên môn trong trường THCS theo hướng xây dựng cộng đồng học tập như sau: Đoàn Nguyệt Linh và Phạm Thị Thanh Hải với nghiên cứu: “ Xây dựng công đồng học tập chuyên môn ở nhà trường phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông 2018”. Nghiên cứu này cho thấy sự cần thiết phải tăng cơ hội phát triển chuyên môn theo hướng CĐHT.
Áp dụng kết quả nghiên cứu này tới các trường THCS có điều kiện khó khăn sẽ làm tăng cơ hội để phát triển chuyên môn, xây dựng CĐHT trong trường học. CĐHT là một trong những hướng phát triển chuyên môn cần được triển khai ở tất cả các địa phương. Việc mở rộng mô hình sinh hoạt chuyên môn này đến các vùng khó khăn giúp cho GV có cơ 20 hội hòa nhập với công đồng học thuật [13]. Đoàn Nguyệt Linh và Phạm Thị Thanh Hải với nghiên cứu: “ Xây dựng công đồng học tập chuyên môn ở nhà trường phổ thông theo chương trình giáo dục phổ thông 2018”.
Nghiên cứu này cho thấy sự cần thiết phải tăng cơ hội phát triển chuyên môn theo hướng CĐHT. Áp dụng kết quả nghiên cứu này tới các trường THCS có điều kiện khó khăn sẽ làm tăng cơ hội để phát triển chuyên môn, xây dựng CĐHT trong trường học. CĐHT là một trong những hướng phát triển chuyên môn cần được triển khai ở tất cả các địa phương. Việc mở rộng mô hình sinh hoạt chuyên môn này đến các vùng khó khăn giúp cho GV có cơ hội hòa nhập với công đồng học thuật [13].
Như vậy, Trong bối cảnh xã hội hiện đại, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, quốc tế hóa, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nền giáo dục nước ta đang tích cực thực hiện công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, vì vậy nâng cao chất lượng dạy học là mục tiêu hàng đầu của mỗi trường học - cơ sở hạt nhân quan trọng của toàn hệ thống giáo dục. Nhằm thực hiện được mục tiêu chung của nền giáo dục đáp ứng yêu cầu hiện nay, việc đổi mới quản lý hệ thống quá trình dạy học, trong đó, đổi mới quản lý hoạt động tổ chuyên môn (TCM) được xem là điều kiện cơ bản, tiên quyết, tạo nên sức mạnh nội lực của chính nhà trường. Các trường trung học cơ sở thời gian qua đã triển khai thực hiện đổi mới hoạt động TCM, từng bước nâng cao chất lượng dạy học, tuy vậy, vẫn còn các bất cập, hạn chế về công tác tổ chức, quản lý. Vì vậy, việc quản lý có hiệu quả hoạt động TCM ở các trường THCS là vấn đề thực sự cần thiết và có tính chiến lược trong giai đoạn hiện nay.
Cộng đồng học tập trong một trường học Việt Nam là quốc gia mang tính đại diện cao trong khu vực Á Đông bởi những đặc điểm văn hóa tương đồng với nhiều nước Đông Á như Trung Quốc, Singapore và Hàn Quốc về hệ thống giáo dục tập trung, giai tầng xã hội và thực trạng giáo viên phải đối mặt với công việc nặng nề và áp lực từ kết quả kiểm tra 21 đánh giá như là bằng chứng cho chất lượng giảng dạy (Hamano, 2008). Đây là những đặc điểm đặc thù có tiềm năng ảnh hưởng lớn đến sự vận hành của CĐHTCM. Thêm vào đó, nước ta cũng đang trải qua quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục với cốt lõi là việc đưa vào triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới và công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên. Tại Việt Nam, khái niệm CĐHTCM đang bắt đầu được quan tâm và nhắc tới trong một số nghiên cứu về bồi dưỡng phát triển năng lực chuyên môn cho giáo viên.
Tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ mang tính chất tổng quan và tiếp thu khái niệm từ nghiên cứu trên thế giới hoặc quan sát trên một trường hợp điển hình. Chưa có kết quả khảo sát khoa học trên diện rộng nào về mô hình CĐHTCM tại Việt Nam. Trong khi giáo viên trên toàn quốc đang thực hiện nhiều chương trình đào tạo tại chỗ và trực tuyến, có lẽ điều quan trọng là phải nghiên cứu cách thức các trường học trong vai trò các CĐHTCM ở các vùng kinh tế xã hội khác nhau của Việt Nam hoạt động và thúc đẩy năng lực giáo viên trong làn sóng cải cách như thế nào. Hơn nữa, thay vì chỉ cho phép sử dụng một bộ sách giáo khoa thống nhất trong cả nước như trước đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT) đã cho phép các trường lựa chọn một số bộ sách giáo khoa và xây dựng chương trình cụ thể (MOET, 2018).
Sách giáo khoa mới cũng được biên soạn theo hướng cho phép giáo viên linh hoạt hơn khi thiết kế, lựa chọn tài liệu và nội dung học tập cho bài học của mình. Việc xem xét sự thay đổi trong phân công quyền hạn trong phạm vi nhà trường phổ thông, mà cụ thể là trường tiểu học – cấp học đầu tiên đưa vào triển khai chương trình mới, và quyền tự chủ của giáo viên trong bối cảnh chuyển đổi này sẽ đóng góp như thế nào vào sự phát triển của CĐHTCM là một bước đi cần thiết giúp củng cố hiệu quả triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới theo định hướng phát triển năng lực. Trên thực tế của các nhà trường hiện nay, việc học tập chuyên môn của GV Việt Nam ở một góc độ nào đó, được thể hiện ở một số tổ chức sinh hoạt 22 chuyên môn. Tuy nhiên, có thể thấy, việc phát triển học tập chuyên môn của GV thường được xây dựng theo hướng sinh hoạt chuyên môn chứ chưa theo hướng phát triển các cộng đồng học tập.
Liên quan đến nội dung này, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có một số công văn định hướng chỉ đạo việc phát triển chuyên môn cho GV. Trong khi giáo viên trên toàn quốc đang thực hiện nhiều chương trình đào tạo tại chỗ và trực tuyến, có lẽ điều quan trọng là phải nghiên cứu cách thức các trường học trong vai trò các CĐHTCM ở các vùng kinh tế xã hội khác nhau của Việt Nam hoạt động và thúc đẩy năng lực giáo viên trong làn sóng cải cách như thế nào. Hơn nữa, thay vì chỉ cho phép sử dụng một bộ sách giáo khoa thống nhất trong cả nước như trước đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT) đã cho phép các trường lựa chọn một số bộ sách giáo khoa và xây dựng chương trình cụ thể (MOET, 2018). Sách giáo khoa mới cũng được biên soạn theo hướng cho phép giáo viên linh hoạt hơn khi thiết kế, lựa chọn tài liệu và nội dung học tập cho bài học của mình.
Việc xem xét sự thay đổi trong phân công quyền hạn trong phạm vi nhà trường phổ thông, mà cụ thể là trường tiểu học – cấp học đầu tiên đưa vào triển khai chương trình mới, và quyền tự chủ của giáo viên trong bối cảnh chuyển đổi này sẽ đóng góp như thế nào vào sự phát triển của CĐHTCM là một bước đi cần thiết giúp củng cố hiệu quả triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới theo định hướng phát triển năng lực.