phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động thƣ viện hƣớng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh THCS Chƣơng 2: Thực trạng quản lí hoạt động thƣ viện hƣớng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh các trƣờng THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Biện pháp quản lí hoạt động thƣ viện hƣớng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh các trƣờng THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội 10 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG THƢ VIỆN HƢỚNG TỚI GIÁO DỤC “VĂN HÓA ĐỌC” CHO HỌC SINH THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện 1.
Các nghiên cứu ngoài nước Chuẩn hóa các hoạt động thƣ viện cũng là một vấn đề đƣợc các tác giả quan tâm. Tiêu biểu nhƣ: Karen Coyle (2005) đã giới thiệu khái quát về các tiêu chuẩn thƣ viện và các tiêu chuẩn phi thƣ viện đƣợc xây dựng và áp dụng trong thƣ viện ở Hoa Kỳ trong bài “Thƣ viện và Tiêu chuẩn” (Libraries and Standards). Bài biết đã phân tích vai trò của Hội Thƣ viện Hoa kỳ (ALA) và Tổ chức Tiêu chuẩn Thông tin Quốc gia (NISO) Hoa Kỳ trong việc xây dựng và phát triển các tiêu chuẩn thƣ viện ở Hoa Kỳ và những vấn đề đặt ra đó là: có những tiêu chuẩn áp dụng trong môi trƣờng thƣ viện mà không nằm trong phạm vi hoạt động tiêu chuẩn của NISO, việc xây dựng tiêu chuẩn của NISO luôn chậm chạm và không bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin hiện nay [80]. Jurgen Krause (2003) trong bài tham luận “Chuẩn hóa, sự không đồng nhất và chất lƣợng của việc phân tích nội dung: Mâu thuẫn chính yếu của các thƣ viện số và giải pháp” trình bày tại Đại hội Thông tin và Thƣ viện thế giới IFLA 69 ở Berlin (Đức), đã phân tích ảnh hƣởng của sự phát triển về mặt công nghệ, những nhu cầu mới mẻ của ngƣời dùng tin đối với những thay đổi mang tính hệ quả trong việc định hình việc xử lí thông tin.
Tham luận đã khẳng định vai trò của chuẩn hóa trong việc xử lý nội dung tài liệu đảm bảo cho thƣ viện giữ vai trò một cơ quan cung cấp thông tin đa tiêu điểm trong môi trƣờng web [86]. Marketing trong hoạt động thông tin – thƣ viện cũng là một vấn đề đƣợc nhiều tác gải quan tâm. Trong đó có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu 11 nhƣ: tác giả Kavulya J.M (2004) với nghiên cứu “Marketing các dịch vụ TV: Một nghiên cứu trƣờng hợp của các TV đại học đƣợc chọn lọc tại Kenya”, tác giả Koontz.J với nghiên cứu (2006) “Những thách thức và cơ hội của marketing TV đại học tại Mỹ - kinh nghiệm của các TV đại học Mỹ với việc ứng dụng toàn cầu” [94]; tác giả Mu. các vấn đề marketing hoạt động thƣ viện chủ yếu đƣợc lồng ghép trong các nghiên cứu về hoạt động makerting của các cơ quan nhƣng đã khẳng định việc áp dụng marketing trong hoạt động của thƣ viện sẽ giúp thƣ viện đạt đƣợc hiệu quả cao.
Các nghiên cứu trong nước Về chuẩn hóa hoạt động TV nói chung phải kể đến nghiên cứu của tác giả Vũ Dƣơng Thúy Ngà cùng cộng sự “Tăng cƣờng việc chuẩn hóa trong hoạt động thƣ viện ở Việt Nam”. Đề tài đã tập trung vào việc nghiên cứu và đánh giá thực trạng chuẩn hóa với việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ và hoạt động tiêu chuẩn hóa trong các thƣ viện Việt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp cụ thể để có thể đảm bảo và tăng cƣờng sự chuẩn hóa trong hoạt động thƣ viện Việt Nam nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của hoạt động này. Luận án với đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện việc chuẩn hóa trong xử lý tài liệu tại các TV Việt Nam” của tác giả Vũ Dƣơng Thúy Ngà [37] đã trình bày những vấn đề chung về chuẩn hóa trong xử lí tài liệu. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng chuẩn hóa trong xử lý tài liệu tại các TV Việt Nam.
Năm 2003, Trung tâm thông tin khoa học công nghệ quốc gia đã tổ chức cuộc hội thảo “Công tác xây dựng tiêu chuẩn hóa trong hoạt động thông tin – tƣ liệu”; năm 2009, tại cuộc Hội thảo “Công tác xây dựng chuẩn nghiệp 12 vụ và tiêu chuẩn tại các TV ở Việt Nam”; năm 2011, với sự tài trợ của Tổ chức Từ thiện Đại Tây Dƣơng, Viện Đại học Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) đã tổ chức hội thảo “Hệ thống và tiêu chuẩn cho Việt Nam”. Tại đó, nhiều tham luận đã đề cập đến những vấn đề chung và thực tiễn công tác tiêu chuẩn hóa tại một số TV và cơ quan thông tin cụ thể. Nghiên cứu của tác giả Phan Huy Quế (2003) cùng cộng sự “Nghiên cứu áp dụng các chuẩn lƣu trữ và trao đổi thông tin trong hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia” [48] đã phân tích, nêu lên thực trạng và đƣa ra các giải pháp đẩy mạnh chuẩn hóa trong hoạt động thông tin tƣ liệu trong đó có TV. Vào khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, các nhà TV học Việt Nam bắt đầu quan tâm đến vấn đề marketing.
Vào tháng 8/1995, lần đầu tiên hội thảo “Marketing trong hoạt động thông tin – TV” đƣợc tổ chức tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ. Bên cạnh đó có các công trình nghiên cứu nhƣ: “Quản lí mô hình TV hiện đại tại trƣờng Đại học Cần Thơ phục vụ mục tiêu đào tạo khoa học công nghệ” của tác giả Huỳnh Thị Trang (Kỷ yếu Hội nghị TV các trƣờng Đại học và Cao đẳng lần thứ nhất, Đà Nẵng, tháng 10 năm 2008) [60] mục đích của công trình này là nghiên cứu dịch vụ cung cấp thông tin tại các trung tâm thông tin TV trƣờng đại học để thấy đƣợc giá trị và ý nghĩa mà dịch vụ này mang lại cho bạn đọc từ đó đề xuất một số biện pháp. Luận án với đề tài “Nghiên cứu ứng dụng marketing hỗn hợp trong hoạt động thông tin – TV ở các trƣờng đại học Việt Nam” (2012) của tác giả Bùi Thanh Thủy [64 đã chỉ ra đƣợc các công cụ của maketing hỗn hợp (7P: Sản phẩm (product); giá (price); địa điểm (place); truyền thông (promotion); con ngƣời (people); quy trình (process); môi trƣờng dịch vụ (physical)) và đề xuất các biện pháp, đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng khi áp dụng makerting hỗn hợp trong hoạt động thông tin – TV ở các trƣờng đại học Việt Nam từ kinh nghiệm của nƣớc ngoài. 13 Bên cạnh các lĩnh vực nghiên cứu trên, quản lí nguồn nhân sự trong hoạt động thƣ viện cũng đƣợc một số tác giả quan tâm.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này nhƣ: “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động của hệ thống TV công cộng ở nƣớc ta” là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011 do Trần Thị Minh Nguyệt làm chủ nhiệm [41]; “Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực các TV công cộng đồng bằng Sông Cửu Long”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2008) do Nguyễn Thị Thƣ làm chủ nhiệm [62]. Đây là những công trình nghiên cứu hiếm hoi mở đƣờng trong lĩnh vực nguồn nhân lực TV, đặt nền tảng cho những ngƣời đi sau tiếp tục khai phá. Các nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện ở trường phổ thông 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Do sự tác động của khoa học công nghệ, trong một xã hội biến đổi không ngừng, vai trò của giáo viên TV cũng thay đổi không ngừng, có các công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: tác giả Haycock có bài “Nghiên cứu nghề giáo viên TV và thể chế của sự thay đổi” [86] đã nói lên vai trò của truyền thông trong một môi trƣờng mới là một nghiên cứu của tác giả.
Năm 2002, tác giả Lance có công trình “Bằng chứng quyền lực: Nghiên cứu gần đây về tác động của TV trƣờng học” [83], tác giả Boaden có công trình “Nƣớc Úc nhƣ một xã hội thông tin: Vai trò của mạng thông tin TV” [78]. Trong lĩnh vực quản lí phát triển nguồn nhân lực TV trƣờng phổ thông, có thể tìm thấy những công trình nghiên cứu của các tác giả nƣớc ngoài nhƣ: “TV trƣờng học Úc” của tác giả Nimon [92] là công trình phân tích khái quát về các quản lí phát triển giáo viên TV tại một số quốc gia. Các công trình: “Quản lí nguồn nhân lực trong các TV” của tác giả Gisela [80] đã đề cập đến vai trò của công tác phát triển nguồn nhân lực thƣ viện. Đây là những công trình viết về công tác đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực TV ở một số nƣớc ngoài.
14 Một số công trình nghiên cứu về vai trò của TV đối với kết quả học tập của HS nhƣ: “Tác động của các hoạt động TV đến kết quả học tập và việc học” (C. Coles, 2001); “Công trình nghiên cứu việc học tập của HS thông qua các trung tâm thông tin TV của các trƣờng học ở Wisconsin” (EG. Smith, 2006); “Tác động của TV và các trung tâm thông tin trong trƣờng học ở Pennsylvania” (M. Pencell, 2000); công trình nghiên cứu về tác động của TV trƣờng học tới kết quả học tập của HS (M.
Lonsdalh, 2003)… Các công trình nghiên cứu kể trên đã cho thấy TV trƣờng có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả học tập và những kỹ năng, năng lực cá nhân của HS. Các TV trƣờng học có thể có những tác động tích cực tới kết quả học tập ở trƣờng mà cụ thể là ở cấp Tiểu học và cấp THCS; đồng thời cho thấy đƣợc các TV trƣờng học có thể có những tác động tích cực đến kết quả học tập của HS theo nhiều hƣớng. Trong đó, hƣớng tới nền giáo dục chuẩn cần tập trung vào những gì HS học (năng lực) hơn là những gì giáo viên giảng dạy (lƣợng kiến thức), các nhân viên TV trƣờng chỉ có một vị trí duy nhất là giúp HS phát triển kỹ năng tìm kiếm thông tin để phục vụ cho môn học [68]. Nghiên cứu trong nước Việt Nam thực hiện quản lí theo chuẩn trong lĩnh vực thƣ viện bắt đầu từ năm 2003.