PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phát triển đội ngũ giáo viên là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chiến lược về con người và phát triển con người xuyên suốt gần một thế kỷ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước của Đảng. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, cần: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc” thực hiện phương châm: “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”. Bên cạnh đó, Luật giáo dục năm 2019 đã chỉ rõ: “Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Quốc hội, 2019).
Ngành GD&ĐT muốn phát triển con người đáp ứng yêu cầu mới của đất nước, đặc biệt giáo dục thế hệ trẻ thời đại 4.0 đòi hỏi phải phát triển đội ngũ GV có kiến thức và năng lực toàn diện, trong đó có nội dung phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận năng lực – một vấn đề vừa có tính thời sự, vừa lâu dài. Phát triển đội ngũ GV nói chung, hoạt động phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận năng lực nói riêng là một trong những hoạt động GD quan trọng trong nhà trường hiện nay, nhất là các trường THCS. Qua hoạt động phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận năng lực sẽ giúp các thầy cô giáo hoàn thiện hơn, nâng cao năng lực hơn nữa, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng GD&ĐT. Công tác GVCN ở trường THCS luôn được chú trọng, ngày 15 tháng 9 năm 2020 Bộ GD&ĐT ra thông tư số 32/2020/TT-BGDĐT quy định về nhiệm vụ quyền hạn của GVCN là phải thực hiện nhiệm vụ các HĐ dạy học GD theo kế hoạch GD 1 của nhà trường và kế hoạch GD của tổ chuyên môn; QL học sinh trong các hoạt động GD do nhà trường tổ chức; tham gia các HĐ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả GD.
Học tập, rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp DH, GD. Tham gia tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, dự các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm. Đồng thời phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, gia đình HS và các tổ chức xã hội liên quan để tổ chức hoạt động GD, dự các cuộc họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luật khi giải quyết những vấn đề có liên quan đến HS của lớp do mình làm chủ nhiệm (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020). Lứa tuổi học sinh THCS thường được bắt đầu từ 11 hoặc 12 tuổi và kết thúc vào lúc 14 hoặc 15 tuổi, đây là thời gian vàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi cá nhân, là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, thời kỳ trẻ ở “Ngã ba đường” của sự phát triển.
Học sinh THCS đang ở trong giai đoạn phát triển tâm lí và nhận thức xã hội không cân bằng với phát triển sinh học. Chính sự mất cân bằng trong quá trình phát triển tâm sinh lý đã góp phần làm cho HS ở lứa tuổi này gặp khó khăn khi kiểm soát cảm xúc và hành vi của mình (Lưu Song Hà, 2005). Chính vì vậy người GVCN cần chuẩn bị kỹ năng, NL quản lý lớp học để thể hiện vai trò quan trọng, thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong GD học sinh. Thực tế cho thấy, công tác GVCN ở các trường THCS vẫn còn tồn tại những thách thức không nhỏ.
Đó là tình trạng GVCN chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách đầy đủ, hệ thống để có những năng lực cần thiết, nhất là những năng lực như: NL chuyên môn, nghiệp vụ; NL quản lý lớp học; NL giáo dục HS. Ở các trường THCS, HĐ phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận NL được triển khai còn nhiều bất cập, hiệu quả thấp. Nguyên nhân của thực trạng này một phần do công tác QLGD chưa phù hợp. Thời gian qua, các trường THCS trên địa bàn Thị xã Bến cát, tỉnh Bình Dương đã có những bước phát triển cả về quy mô và chất lượng để đáp ứng nhu cầu học tập của con em người dân và công tác QLGD cơ bản hoàn thành nhiệm 2 vụ.
Tuy nhiên, HĐ phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận NL ở các trường THCS còn khá nhiều hạn chế, cần phải đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp… Để hoạt động phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận NL ở các trường THCS thị xã Bến cát, tỉnh Bình Dương ngày càng hiệu quả hơn, cần chú trọng công tác QL hoạt động phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận NL ở các trường THCS trên địa bàn. Đó là lý do tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm theo hướng tiếp cận năng lực tại các trường trung học cơ sở thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương” để làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lí giáo dục. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về QL hoạt động phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận NL và khảo sát thực trạng QL hoạt động phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận NL tại các trường THCS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đề tài đề xuất các biện pháp QL nhằm nâng cao hiệu quả HĐ phát triển đội ngũ GVCN theo hướng tiếp cận NL tại các trường THCS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Tổng quan tình hình nghiên cứu 3.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc phát triển năng lực sư phạm của các nhà khoa học trên thế giới, ở các quốc gia có hệ thống GD phát triển khu vực Bắc Mỹ, châu Âu, Nhật Bản khi nghiên cứu về GVCN đã tập trung vào các vấn đề như: vị trí, vai trò của GVCN; chức năng, nhiệm vụ của GVCN trong trường phổ thông; những hoạt động cụ thể của GVCN, đa số các tác giả đã nhấn mạnh GVCN có vai trò to lớn trong việc làm cầu nối đầu tiên giữa HS, gia đình, các GV và công tác QL của Ban giám hiệu. Tại Hoa kỳ, do tính phân cấp trong GD, vị trí và vai trò cụ thể của các GVCN tùy thuộc vào chiến lược, chính sách GD số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin từng bang, từng trường (Nguyễn Dục Quang, 2010). Ở Nhật Bản, GVCN không chỉ cần thiết trong phạm vi nhà trường và với HS, mà còn được cả xã hội coi trọng, thậm chí được xem như những người cha, 3 mẹ thứ hai đối với HS.S đã chỉ ra các vai trò của GVCN: Duy trì kỷ luật, sĩ số, trật tự và an toàn của lớp học; Giao nhiệm vụ cho HS; Xây dựng tinh thần đồng đội và tình bạn giữa HS; Tư vấn tâm lý cho HS; Xác định các vấn đề và nhu cầu của HS; Thiết lập mối quan hệ GV - HS tích cực; Thực hành và khuyến khích sử dụng hiệu quả thời gian trong lớp học; Cung cấp hỗ trợ học tập cá nhân để giúp HS thành công; Giao tiếp với phụ huynh/người giám hộ để trao đổi về sự tiến bộ/ thiếu hụt của học sinh (Tsenkharla. Một số tác giả nghiên cứu đã xác định NL, phẩm chất của người GV nói chung, GVCN nói riêng, làm cơ sở cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chủ nhiệm.L Abdulgalimov cho rằng NL của người GV bao gồm: NL xã hội, NL sư phạm và NL chuyên môn.
Trong đó, NL xã hội đóng vai trò là cơ sở cho NL sư phạm và NL chuyên môn. Ba loại NL này tạo thành một tam giác và nếu trạng thái cân bằng này bị phá vỡ, thì cấu trúc NL của người GV sẽ bị lệch đi theo các hướng khác nhau (Nguyễn Dục Quang, 2010). Nhà nghiên cứu Ph. Gônôbôlin (1971) cho rằng: “Năng lực sư phạm không phải là loại NL chung, không nhất thiết là NL chuyên biệt, chuyên môn.
NL sư phạm là một loại năng khiếu đặc biệt bao gồm một số yếu tố của cả hai loại năng lực trên”. Có thể hiểu: GV, GVCN cần có các NL sau: NL thu hút học sinh, NL hiểu học sinh, NL truyền đạt tài liệu học tập, NL tổ chức, NL xử lý tình huống sư phạm, NL thuyết phục mọi người, NL dự báo kết quả, NL sáng tạo trong dạy học, NL điều khiển quá trình hoạt động (Gônôbôlin. Mô hình cấu trúc NL gồm 4 thành phần: NL phương pháp, NL chuyên môn, NL tự hoàn thiện, NL xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả Bernd Meir đã đưa ra mô hình NL sư phạm của người GV bao gồm: NL dạy học, NL giáo dục, NL chẩn đoán - đánh giá, NL tư vấn, NL đổi mới và phát triển nghề nghiệp (Bernd Meir và TS.
B cho rằng đội ngũ GV và GVCN thiết lập được các nội quy lớp học mà HS có thể thoải mái và tự giác thực hiện; Giúp GV nói sao để HS lắng nghe; GV cần làm gì khi HS gây rắc rối; Giải quyết mâu thuẫn như thế nào để không ai thua cuộc và không ai bị tổn thương. Đồng thời, cuốn sách nhấn 4 mạnh vai trò của mối quan hệ giữa người dạy và người học. Thực tế là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình giảng dạy (Thomas. Tổ chức GD quốc tế RIS Swiss Section - Deutschsprachige Schule BangKok tại Thái Lan, đã nêu rõ người GVCN hiệu quả phải đáp ứng tốt 4 vai trò: GVCN là người QL lớp học và đời sống của HS; GVCN lập kế hoạch HĐ lớp học, tạo sự gắn kết trong tập thể lớp, giải quyết mọi vấn đề trong lớp; GVCN là có nhiệm vụ cố vấn về các HĐ, phong trào của lớp; GVCN hợp tác với cha mẹ HS, liên lạc trao đổi tình hình của HS ở lớp; GVCN kết nối với GV bộ môn, các đoàn thể và Ban giám hiệu nhà trường (RIS Swiss Section- Deutschsprachige Schule BangKok, 2015).