Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học cơ sở đang trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm hiện thực hóa mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Thực tiễn giáo dục tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre trong năm học 2020-2021 ghi nhận mạng lưới gồm 10 trường trung học cơ sở với quy mô 196 lớp và 6.864 học sinh. Về chất lượng giáo dục đại trà, toàn huyện có 77,90% học sinh đạt hạnh kiểm Tốt (5.347 học sinh) và tỷ lệ học sinh đạt học lực Khá, Giỏi chiếm tới 70,40% (trong đó học lực Giỏi chiếm 27,63% với 1.897 học sinh; học lực Khá chiếm 42,77% với 2.936 học sinh). Mặc dù có nền tảng học lực và hạnh kiểm vững chắc, công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế, tính ứng dụng thực tiễn chưa cao và chưa đồng đều giữa các đơn vị trường học.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết những bất cập trong quy trình quản lý, thẩm định và hỗ trợ học sinh trung học cơ sở nghiên cứu khoa học. Mục tiêu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý tại địa phương, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp quản lý khoa học, khả thi cho Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Phạm vi khảo sát được triển khai trên 275 khách thể (gồm 7 cán bộ quản lý, 118 giáo viên và 150 học sinh) tại 3 trường đại diện: THCS Vĩnh Thành (trường quy mô lớn với khoảng 1.200 học sinh), THCS Long Thới (khoảng 700 học sinh) và THCS Vĩnh Hòa (khoảng 250 học sinh) trong giai đoạn năm học 2019-2021. Luận văn có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp căn cứ khoa học giúp nâng cao tỷ lệ tham gia nghiên cứu, chuẩn hóa quy trình hướng dẫn và gia tăng số lượng giải thưởng khoa học kỹ thuật các cấp tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên ba trụ cột tiếp cận hiện đại trong khoa học quản lý giáo dục: Tiếp cận hoạt động, Tiếp cận năng lực và Tiếp cận chức năng quản lý. Tiếp cận chức năng quản lý xác định rõ quy trình 4 giai đoạn liên hoàn của chủ thể quản lý gồm: Lập kế hoạch, Tổ chức thực hiện, Chỉ đạo thực hiện và Kiểm tra, đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh. Tiếp cận năng lực định hướng việc hình thành cấu trúc năng lực nghiên cứu khoa học ở học sinh qua 3 thành tố: Kiến thức phương pháp nghiên cứu, Kỹ năng tư duy thực hành và Thái độ đam mê khám phá.

Nghiên cứu làm rõ các khái niệm cốt lõi: Quản lý giáo dục, Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học cơ sở và Biện pháp quản lý của Hiệu trưởng. Cơ sở pháp lý và định hướng chuyên môn của đề tài dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm: Thông tư số 12/2010/TT-BGDĐT về quản lý đề tài khoa học công nghệ, Thông tư số 38/2012/TT-BGDĐT ban hành Quy chế thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học, và Thông tư số 32/2017/TT-BGDĐT quy định 22 lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật (từ Khoa học thực vật, Hóa sinh, Hệ thống nhúng đến Khoa học xã hội và hành vi). Khung lý thuyết này khẳng định nghiên cứu khoa học của học sinh trung học cơ sở là hoạt động giải quyết các vấn đề thực tiễn gần gũi với kiến thức phổ thông, đòi hỏi sự dẫn dắt chuyên nghiệp từ người thầy và cơ chế quản trị linh hoạt từ Ban Giám hiệu.

Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan, đề tài kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Cỡ mẫu khảo sát gồm 275 khách thể, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện tại 3 trường trung học cơ sở có quy mô học sinh từ nhỏ, trung bình đến lớn tại huyện Chợ Lách: THCS Vĩnh Thành (khoảng 1.200 học sinh), THCS Long Thới (khoảng 700 học sinh) và THCS Vĩnh Hòa (khoảng 250 học sinh). Mẫu khảo sát gồm 7 cán bộ quản lý, 118 giáo viên và 150 học sinh nhằm phản ánh đa chiều từ góc nhìn chỉ đạo, hướng dẫn đến người học.

Dữ liệu được thu thập qua phiếu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1,00 đến 5,00) và thang đo 3 mức độ, kết hợp phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp và nghiên cứu sản phẩm khoa học kỹ thuật thực tế của học sinh. Số liệu định lượng được làm sạch, xử lý và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel để tính toán tỷ lệ phần trăm và điểm trung bình. Việc lựa chọn phương pháp định lượng thống kê kết hợp phân tích định tính giúp lượng hóa chính xác mức độ kỹ năng của học sinh, năng lực hướng dẫn của giáo viên cũng như thực trạng từng khâu quản lý của Hiệu trưởng. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt qua 2 năm học 2019-2020 và 2020-2021, tập trung hoàn thiện bộ số liệu thực chứng vào tháng 9 năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng nhận thức cho thấy khoảng cách đáng kể giữa giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học. Chỉ có 9,6% giáo viên và 16,67% học sinh đánh giá hoạt động này ở mức "Rất cần thiết". Tỷ lệ coi hoạt động này ở mức "Cần thiết" chiếm 48,8% ở giáo viên và 67,33% ở học sinh; đáng lưu ý có 12,8% giáo viên nhận định hoạt động này là "Không cần thiết", cao hơn nhiều so với tỷ lệ 2,0% ở học sinh.

Về kỹ năng nghiên cứu khoa học của học sinh, học sinh tự đánh giá kỹ năng chung đạt điểm trung bình 3,46 (mức Khá), trong khi cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá thận trọng hơn ở điểm trung bình 3,39 (mức Trung bình). Kỹ năng được đánh giá cao nhất là "Phát hiện, lựa chọn vấn đề nghiên cứu và xây dựng tên đề tài" với điểm trung bình 3,90 ở học sinh và 3,74 ở giáo viên. Ngược lại, kỹ năng "Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu" bị đánh giá thấp nhất, chỉ đạt điểm trung bình 3,15 ở học sinh và 3,26 ở giáo viên.

Về năng lực hướng dẫn của giáo viên, giáo viên tự đánh giá đạt điểm trung bình chung 3,67 (mức Khá), trong khi học sinh đánh giá cao sự hỗ trợ của thầy cô với điểm trung bình 4,15 (mức Tốt). Trong đó, năng lực hướng dẫn chọn vấn đề nghiên cứu được học sinh đánh giá cao nhất với điểm trung bình 4,49, còn năng lực hướng dẫn trình bày kết quả nghiên cứu đạt điểm trung bình 3,15.

Về kết quả dự thi sáng tạo khoa học kỹ thuật giai đoạn 2019-2021 tại 3 trường khảo sát, toàn huyện đạt tổng cộng 29 giải từ cấp huyện đến cấp tỉnh (gồm 19 giải cấp huyện và 10 giải cấp tỉnh). Trường THCS Vĩnh Thành dẫn đầu thành tích với 11 giải cấp huyện và 6 giải cấp tỉnh qua hai năm học.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát phản ánh rõ nét thực trạng nghiên cứu khoa học tại các trường trung học cơ sở huyện Chợ Lách qua các bảng so sánh tương quan giữa tự đánh giá của học sinh và đánh giá của giáo viên. Sự chênh lệch trong kỹ năng nghiên cứu cho thấy học sinh còn lúng túng khi xử lý các nội dung mang tính học thuật cao. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 11-15, khi các em quen với tư duy trực quan, vốn từ chuyên ngành còn hạn chế và chưa được trang bị phương pháp nghiên cứu bài bản.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại các địa phương khác, rào cản lớn nhất đối với học sinh không phải là cơ sở vật chất mà là sự thiếu hụt quỹ thời gian học tập và nghiên cứu (điểm trung bình ảnh hưởng 3,95) cùng với việc thiếu động cơ nghiên cứu rõ ràng (điểm trung bình 3,65). Về phía công tác quản lý, Ban Giám hiệu các trường đã thực hiện rất tốt việc thành lập ban chỉ đạo (điểm trung bình 4,58) và xác định mục tiêu nghiên cứu (điểm trung bình 4,58). Tuy nhiên, khâu khảo sát nhu cầu nghiên cứu của học sinh (điểm trung bình 3,34) và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường (điểm trung bình 3,10) vẫn còn ở mức thấp. Điều này phản ánh công tác quản lý tại một số trường còn mang tính mệnh lệnh hành chính, chưa thực sự khơi gợi nhu cầu tự thân và tạo môi trường liên kết đa lực lượng cho học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của học sinh trung học cơ sở huyện Chợ Lách, luận văn đề xuất 4 nhóm biện pháp quản lý mang tính đột phá:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về vị trí của nghiên cứu khoa học. Hiệu trưởng các trường cần tổ chức định kỳ các buổi tọa đàm, ngày hội STEM và diễn đàn sáng tạo trẻ vào đầu mỗi năm học, hướng tới mục tiêu 100% cán bộ giáo viên và trên 90% học sinh hiểu rõ vai trò của hoạt động này; phấn đấu giảm tỷ lệ giáo viên xem nghiên cứu khoa học là không cần thiết từ 12,8% xuống dưới 2% trong vòng 1 năm học.

Thứ hai, đổi mới quy trình lập kế hoạch dựa trên khảo sát nhu cầu thực tế của người học. Ban Giám hiệu chỉ đạo các tổ chuyên môn tiến hành lấy ý kiến học sinh vào tháng 9 hàng năm, nâng mức độ thực hiện khảo sát nhu cầu từ điểm trung bình 3,34 lên trên 4,20; đồng thời xây dựng kế hoạch phân bổ đề tài theo 22 lĩnh vực nghiên cứu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ưu tiên các đề tài nông nghiệp kỹ thuật cao và kỹ thuật môi trường phù hợp với đặc thù huyện Chợ Lách.

Thứ ba, chuẩn hóa công tác bồi dưỡng năng lực hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giáo viên. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu mở các lớp tập huấn kỹ năng thu thập tài liệu, kỹ năng phân tích dữ liệu và phương pháp trình bày báo cáo khoa học cho giáo viên; đảm bảo 100% giáo viên phụ trách đội tuyển nghiên cứu khoa học được bồi dưỡng chuyên sâu trước năm 2023.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên lực lượng và đổi mới chính sách thi đua, khen thưởng. Ban Giám hiệu cần xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường, Gia đình và các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại địa phương để nâng điểm đánh giá cơ chế phối hợp từ 3,10 lên trên 4,00; đồng thời trích tối thiểu 15-20% quỹ thi đua để khen thưởng kịp thời các dự án đạt giải cấp huyện và cấp tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và lý luận sâu sắc cho nhiều nhóm đối tượng:

Cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường phổ thông): Nắm vững khung lý thuyết 4 chức năng quản lý, sử dụng bộ công cụ khảo sát thực chứng và áp dụng các biện pháp tổ chức, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật một cách khoa học, hiệu quả tại đơn vị mình.

Giáo viên trung học cơ sở và giáo viên hướng dẫn hoạt động STEM: Hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý và những điểm nghẽn kỹ năng của học sinh lứa tuổi 11-15, từ đó xây dựng giáo án, định hướng đề tài thực tế và rèn luyện kỹ năng viết báo cáo khoa học chuẩn mực cho học sinh.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Khai thác phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, cách thức thiết kế bảng hỏi khảo sát 275 mẫu và mô hình xử lý dữ liệu thống kê bằng thang đo Likert trong nghiên cứu khoa học giáo dục.

Chuyên viên phụ trách chuyên môn tại Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Tham khảo các phân tích thực trạng tại huyện Chợ Lách để xây dựng văn bản hướng dẫn chỉ đạo, cơ chế cấp kinh phí và quy chế thi đua nghiên cứu khoa học kỹ thuật phù hợp với đặc thù khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động nghiên cứu khoa học mang lại lợi ích cụ thể nào cho học sinh trung học cơ sở? Hoạt động này giúp học sinh vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn cuộc sống, phát triển năng lực tư duy phản biện, kỹ năng làm việc nhóm và phương pháp tự học. Trong thực tế tại huyện Chợ Lách, học sinh tham gia nghiên cứu khoa học đều có sự tiến bộ vượt bậc về tinh thần tự giác và khả năng thuyết trình trước đám đông.

Vì sao học sinh trung học cơ sở gặp khó khăn nhất ở kỹ năng xây dựng cơ sở lý luận? Học sinh lứa tuổi 11-15 có tư duy trừu tượng đang hình thành và vốn thuật ngữ chuyên môn hạn chế. Khảo sát thực tế cho thấy kỹ năng này chỉ đạt điểm trung bình 3,15 ở học sinh và 3,26 ở giáo viên, đòi hỏi giáo viên hướng dẫn phải trực tiếp đồng hành hỗ trợ tìm kiếm tài liệu tham khảo chuẩn xác.

Rào cản lớn nhất khiến học sinh ít tham gia nghiên cứu khoa học là gì? Rào cản hàng đầu là thiếu quỹ thời gian học tập do áp lực học chính khóa (điểm trung bình ảnh hưởng 3,95) và thiếu động cơ nghiên cứu rõ ràng (điểm trung bình 3,65). Học sinh chưa được cân đối hợp lý giữa lịch học văn hóa và thời gian nghiên cứu thực tế.

Trong 4 chức năng quản lý, khâu nào tại các trường trung học cơ sở huyện Chợ Lách còn hạn chế? Khâu xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ phận trong nhà trường đạt điểm thấp nhất với điểm trung bình 3,10 (mức Đôi khi), cùng với việc khảo sát nhu cầu của học sinh khi lập kế hoạch chỉ đạt 3,34. Công tác quản lý vẫn còn mang nặng tính hành chính từ trên xuống.

Học sinh trung học cơ sở có thể tham gia nghiên cứu ở những lĩnh vực nào? Theo Thông tư số 32/2017/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, học sinh được nghiên cứu trong 22 lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Tại huyện Chợ Lách, các lĩnh vực nổi bật và phù hợp nhất gồm Khoa học thực vật, Kỹ thuật môi trường, Hóa sinh và Khoa học xã hội hành vi gắn với làng nghề truyền thống.

Kết luận

  • Hoạt động nghiên cứu khoa học là phương thức giáo dục trải nghiệm quan trọng, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và phát triển phẩm chất, năng lực toàn diện cho hơn 6.800 học sinh trung học cơ sở tại huyện Chợ Lách.
  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh cấp trung học cơ sở dựa trên tiếp cận hoạt động, tiếp cận năng lực và 4 chức năng quản lý giáo dục.
  • Bức tranh thực trạng được khảo sát sâu rộng trên 275 khách thể, chỉ rõ thành tựu 29 giải thưởng các cấp giai đoạn 2019-2021, đồng thời nhận diện điểm nghẽn về cơ chế phối hợp (điểm trung bình 3,10) và kỹ năng viết cơ sở lý luận của học sinh (điểm trung bình 3,15).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ từ nâng cao nhận thức, lập kế hoạch bám sát nhu cầu, chuẩn hóa bồi dưỡng giáo viên đến hoàn thiện cơ chế khen thưởng và cơ sở vật chất.
  • Đóng góp chính của đề tài là cung cấp khung giải pháp thực chứng, giúp Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở chuyển hóa công tác nghiên cứu khoa học từ phong trào hình thức sang chiều sâu chất lượng.

Các cơ sở giáo dục trung học cơ sở cần nhanh chóng triển khai áp dụng đồng bộ các giải pháp quản lý nêu trên ngay từ đầu năm học mới để tạo bước đột phá trong công tác giáo dục STEM và ươm mầm tài năng khoa học trẻ tại địa phương.