Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Vài nét về nghiên cứu vấn đề Từ những năm 60-70 của thế kỷ 20 khi mà toàn thế giới chạy đua về phát triển mọi mặt của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn mở cửa toàn cầu, các nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức,. đã quan tâm đến vấn đề giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nghề và công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề nhằm thỏa mãn những yêu cầu ngày càng cao của xã hội công nghiệp. Do đặc điểm và những yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực ở mỗi nước là khác nhau, trong mỗi lĩnh vực lại có những đòi hỏi và yêu cầu khác nhau song đều có những điểm chung là chú trọng đến sự phát triển về kiến thức, hoàn thiện về kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.
Ở Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự liên kết giữa việc học trong một mô hình trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một cơ sở có năng lực chuyên môn vè sơ phạm và nghiệp vụ dạy nghề của các trường nghề. Theo đó, các công ty tập trung vào việc cung cấp kiến thức và kỹ năng thực tế, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng phù hợp với công nghệ sản xuất của công ty đó còn các nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết cơ bản nhiều hơn. Do sự phát triển hai nền tảng kế hợp như vậy mà hệ thống giáo dục nghề nghiệp như này gọi là đào tạo nghề kép. Theo số liệu của Chính phủ Đức, khoản 60% học sinh Đức sau khi tốt nghiệp cấp III lựa chọn con đường học nghề, có tới 90% học sinh hoàn thành quá trình học nghề một cách thành công và hệ thống đào tạo nghề ở Đức cũng rất linh hoạt cho phép các học sinh đăng ký học nghề mà cảm thấy hoàn toàn không phù hợp có thể quay trở lại nhà trường để học một nghề khác, hoặc đăng ký thực tập tại một công ty khác.
Ở một số nước Châu Á như Nhật Bản, họ đã chú trọng xây dựng một nền giáo dục hiện đại, ưu tiên giáo dục phổ cập hóa bậc tiểu học, thành lập các trường nghề cho thanh niên đồng thời tổ chức đào tạo các khóa chuyên tu trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,… ở cấp trung học cơ sở. Trường dạy nghề tư nhân chiếm tỷ lệ 80% - 90% trong tất cả các trường dạy nghề trong cả nước. Tại Hàn Quốc, “quan niệm giáo dục và đào tạo luôn phải gắn với yêu cầu phát triển kinh tế. Giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật được coi trọng ngay từ cấp trung học, ngay trong chương trình giáo dục phổ thông, tính thực hành đã được coi trọng hơn tính hàn lâm, yêu cầu phân luồng được thực hiện ráo riết.
Sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, học sinh được phân luồng vào trung học phổ thông và trung 6 học nghề. Với sự ra đời của Luật thúc đẩy giáo dục công nghiệp, các trường trung học nghề, chương trình đào tạo công nghiệp và đào tạo tại nhà máy phát triển rất mạnh mẽ ở Hàn Quốc” [2]. Năm 1996, tác giả Heinz Weihrich và đồng nghiệp trong một báo cáo dự án khoa học “Managing vocational training as a joint venture - can the German approach of cooperative education serve as a model for the United States and other countries?” (tạm được dịch là Quản lý đào tạo nghề như một công ty liên doanh - cách tiếp cận hợp tác đào tạo của Đức có thể là một mô hình cho Mỹ và các nước khác?) [19] đã giới thiệu các phương pháp đào tạo nghề truyền thống của Đức và mô hình quản lý đào tạo nghề cần phải được bổ sung hướng tới một mức độ cao hơn, đào tạo theo hệ thống kép được tích hợp lý thuyết và thực hành, lấy năng lực người học làm trung tâm của hoạt động quản lý đào tạo. Tác giả cho rằng đổi mới mô hình đào tạo nghề là một nhu cầu quan trọng và một cách tiếp cận quản lý đào tạo mới là mô hình đào tạo kiểu liên doanh, không chỉ ở Mỹ mà còn ở các nước khác, bằng cách làm cho các tổ chức kinh doanh và Chính phủ cạnh tranh hơn trên thị trường toàn cầu.
Gasskov trong cuốn sách “Managing vocational training systems” (tạm dịch là Quản lý hệ thống đào tạo nghề) [20] đã trình bày một hệ thống khoa học và nghệ thuật về quản lý và tổ chức đào tạo nghề trong cơ sở công lập, bao gồm: quản lý cơ cấu tổ chức, thiết lập mục tiêu, kế hoạch, tài chính, quản lý đào tạo; đồng thời đưa ra biện pháp phát triển năng lực quản lý của các quản trị viên cao cấp; khuyến khích họ xem xét, phản biện các thủ tục hành chính của cơ sở mình để tiến tới mức độ chuyên nghiệp cao. Trong công trình “Management of a TVET Institution” (tạm dịch là Quản lý của một tổ chức đào tạo nghề) [21] của tác giả Arlianti R đã đưa ra cách thức quản lý trường dạy nghề nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng ngành nghề và trình độ đào tạo, trong đó nhấn mạnh trường dạy nghề cần chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chương trình dạy học theo cách tiếp cận năng lực thực hiện của người học, để sản phẩm quá trình đào tạo nghề là lực lượng lao động có số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề phù hợp với những yêu cầu của nhà tuyển dụng. Công trình nghiên cứu của Richard Noonan: “Managing TVET to Meet labor Market Demand” (tạm dịch là Quản lý đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động) [22] đưa ra khái niệm thị trường lao động, phân tích những đặc điểm của thị trường lao động, quy luật cung - cầu nhân lực và những yếu tố tác động đến 7 cung - cầu nhân lực của thị trường lao động, hiệu quả phát triển nhân lực từ hoạt động giáo dục nghề nghiệp, từ đó nêu lên các biện pháp quản lý giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong nền cơ chế thị trường, trong đó biện pháp xác định nhu cầu nhân lực cần được đào tạo sát với yêu cầu thực tế của thị trường lao động là rất cần thiết, tổ chức quản lý hoạt động đào tạo nhân lực để chất lượng nhân lực phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động là rất quan trọng. Ở Việt Nam, vấn đề tào tạo nghề và quản lý hoạt động LKĐT nghề cũng được quan tâm từ rất sớm.
Đến nay đã có những công trình khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng công tác dạy nghề và hoạt động liên kết đào tạo nghề. Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Hằng nghiên cứu về “quản lý đào tạo nghề ở các trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội” (2003) [2]; luận án tiến sĩ của tác giả Phan Minh Hiền về “Phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội” (2012) [3] các tác giả đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu của xã hội ở một số trường dạy nghề, đặc biệt là cao đẳng nghề, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội. Luận văn của tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu “Biện pháp quản lý đào tạo nghề ở trường trung cấp xây dựng Uông Bí- Quảng Ninh” [4]; luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Văn Viên “Quản lý hoạt động liên kết đào tạo trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp ở trung tâm GDTX-DN huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang” [18]. Những nghiên cứu này đã khái quát hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về dạy nghề và quản lý dạy nghề, đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý dạy nghề tại một số cơ sở GDNN.
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về quản lý liên kết đào tạo ở các trường CĐN còn ít công trình nghiên cứu một cách hệ thống, chủ yếu tập trung nghiên cứu tại các trường TCN, trung tâm dạy nghề và nghiên cứu theo hướng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Trường cao đẳng nghề DTNT Bắc Kạn tuy mới được thành lập từ năm 2002 nhưng được đánh giá là trường có kinh nghiệm và chất lượng đào tạo nghề tốt của tỉnh Bắc Kạn. Hoạt động LKĐT giữa trường và các trường Đại học, Cao đẳng đã được thực hiện từ lâu tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế nhất định. Để đánh giá thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo và đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện quản lý hoạt động liên kết đào tạo đạt kết quả cao hơn nữa cần thiết phải có một nghiên cứu đi sâu vào thực trạng hoạt động của nhà trường để đưa ra những nội dung tổng hợp, khách quan.
Một số khái niệm cơ bản 1. Đào tạo “Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn mình của loài người. Đào tạo là một phạm trù giáo dục để chỉ riêng lĩnh vực giáo dục về nghề nghiệp, với một trình độ nghề nghiệp nhất định” [13]. Đào tạo là hoạt động có tổ chức của xã hội loài người nhằm bồi dưỡng và phát triển các phẩm chất, năng lực của con người, có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phát triển và truyền bá văn minh nhân loại.
“Xét từ góc độ chuyển giao kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo và tri thức nghề nghiệp chuyên môn, bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm lý cho người học, đào tạo được cấu thành bởi các thành tố cấu trúc gồm mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức đào tạo. Quá trình chuyển giao năng lực nghề nghiệp được thực hiện trong hoạt động cùng nhau của thầy và trò trong một môi trường dạy học được xác định. Xét từ góc độ này đào tạo bao gồm các thành tố: (1) hoạt động dạy học của giáo viên (2) hoạt động học của sinh viên, học sinh (3) môi trường đào tạo (môi trường vật chất và môi trường tinh thần, môi trường văn hóa” [11].