mở đầu, có lúc kết thúc, năm học được chia ra thành nhiều học kỳ (Phạm Khắc Chương, 1997). (e)Về phương pháp học tập Phương pháp nêu gương, Khổng Tử quan niệm: Phải lấy bản thân mình làm gương sáng để cảm hoá HS. Để thực hiện nó, trong cuộc sống hàng ngày Khổng Tử 15 rất chú trọng từ hành xử đến việc nghiên cứu học tập của bản thân nhằm tác động đến môn đệ. Ông gọi đó là “thân giáo”, Ông nói: “tiên chi lao chi” tức là bắt người làm việc gì mình phải làm trước.
Hay “điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người”. Tự bản thân ông ý thức được rằng mọi hành vi của ông đều được học trò quan tâm theo dõi và học trò của ông đã học tập được nhiều điều bổ ích từ tấm gương của thầy mình. Họ tôn ông là: “vạn thế sư biểu”- thầy của muôn đời (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Giảng dạy phù hợp với đối tượng, Khổng Tử nắm bắt rất cụ thể đặc điểm của từng HS, vì thế trong quá trình dạy học Khổng Tử có thể cùng một vấn đề nhưng giảng giải mỗi người mỗi khác.
Theo ông, để làm được điều này trước hết cần tìm hiểu đặc điểm nhân cách từng học trò, tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng. Với người có tư chất bậc trung trở lên thì mới có thể nói điều cao xa, người dưới bậc trung thì không thể như thế. Cũng là chữ “nhân” nhưng tùy người mà giảng giải đáp khác nhau (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Tri thức gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, mục đích của Khổng Tử khi dạy là giúp học trò vận dụng những hiểu biết để vận dụng trong cuộc sống, trở thành người quân tử, người quản lý xã hội.
Ông cho rằng kết quả của việc học phải được thể hiện qua hành động của họ (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Theo ông, muốn học tập có hiệu quả thì phải tìm thấy vui thú. Trong đạo đức cũng vậy, tập luyện giúp con người có tính cách riêng, nhân cách con người cũng do luyện tập mà thành (tính tương cận dã, tập tương viễn dã - nghĩa là tính người thì ai cũng gần như ai nhưng luyện tập thì thành ra mỗi người một khác). Kết quả cuối cùng của việc học, theo ông phải thể hiện ở hành.
Ông kết luận: đọc 300 thiên Kinh Thi nhưng được giao cho việc hành chính không làm được, giao cho đi sứ không đối đáp được, học như vậy chẳng ích chi (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phương pháp này được ông thể hiện bằng cách: Thường nêu ra những câu hỏi gợi mở để giúp HS nắm bắt được đầu mối của vấn đề, từ đó kích thích sự ham hiểu biết đến cao độ, khi đó mới giảng dạy. 16 Yêu cầu HS kết hợp giữa học và suy nghĩ, phải chủ động suy nghĩ, hỏi thật nhiều (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Trong quá trình dạy học, ông đòi hỏi học trò phải cố gắng tự suy nghĩ.
Việc dụng công suy nghĩ sẽ làm bật ra những thắc mắc, những câu hỏi để giải quyết vấn đề. Cần học cho rộng, hỏi cho kỹ, nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng rõ, làm cho hết sức. Ông đánh giá cao việc đặt câu hỏi của học trò. Ông chỉ gợi mở, cho học trò tự giải đáp các vấn đề còn lại.
Vật có bốn góc, ta bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa. Ông đòi hỏi học trò phải có thái độ học tập: khiêm tốn, học ở mọi nơi, ở mọi lúc, mọi người “ba người cùng đi tất có một người là thầy ta, chọn người hay mà bắt chước, nhìn người dở mà sửa mình” (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Phương pháp ôn tập thường xuyên, kiểm tra học tập, công việc học tập như đắp trái núi, mỗi ngày một ít, kiên trì nhẫn nại thì sẽ thành núi (Lê Ngọc Anh, 2014 & Nguyễn Đức Lân, 1998). Komenxki đề xuất phương pháp giáo dục, dạy học bao gồm: (i)Phương pháp trực quan; (ii)Phương pháp tuần tự hệ thống; (iii)Phương pháp sát đối tượng; (iv)Phương pháp củng cố tri thức; (v)Phương pháp tích cực hóa vai trò của người học; (vi)Phương pháp áp dụng kỷ luật trong nhà trường, là vấn đề không thể thiếu được trong dạy học (Phạm Khắc Chương, 1997).
John Dewey, là nhà triết học và nhà giáo dục Mỹ, đại biểu tiêu biểu của thực dụng luận. Vận dụng triết học đề cao tính hiệu quả thực tế của mình vào lĩnh vực GD. Ông đã tạo nên cuộc cách mạng trong GD, và đã mang đến những ảnh hưởng lớn lao đến hệ thống GD Mỹ và các nước phát triển phương Tây trong thế kỷ XX. Trong tác phẩm Dân chủ và Giáo dục, John Dewey đã phê phán gay gắt một số quan điểm của mô hình GD truyền thống và cho rằng các quan điểm đó là quá bảo thủ, thiếu tính hiệu quả, tính nhân văn và tính dân chủ.
Về phương pháp GD, ông khẳng định khả năng học tập thông qua thực hành và trải nghiệm, và ông đã đưa ra phương pháp GD thực nghiệm, theo đó người học chỉ có được các tri thức thực sự khi bằng hoạt động thực tế của mình, người đó có thể thực hiện những thay đổi thực 17 sự ở các sự vật, chứ không phải bằng cách ghi nhớ các luận điểm lý thuyết suông (xem: http://www. John Dewey coi phương pháp GD được kiểm nghiệm bởi thực tế, bởi trải nghiệm thực tế và cuộc sống là nguồn gốc căn bản nhất của khoa học sư phạm. Ông ủng hộ khuynh hướng thực tiễn trong GD khi ông đưa ra kiến nghị rằng, cần phải thực hiện các nhiệm vụ của GD thông qua quá trình phát triển tự nhiên của đứa trẻ. Ông nhấn mạnh phương pháp GD lấy trẻ em làm trung tâm dựa vào thực hành.
Khi nói về phương pháp học tập, Bác Hồ khẳng định: Trong học tập phải “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000b). “Cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” (Hồ Chí Minh toàn tập, 2000c). Người còn xác định: “Không phải có thầy thì mới học, không thầy đến thì đùa.
Phải biết tự động học tập” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1996a). Nói về hình thức học tập, Bác Hồ chỉ rõ: “Học ở đâu? Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn” (Hồ Chí Minh toàn tập, 1996a). Về phương pháp giảng dạy, Bác Hồ căn dặn cách dạy trẻ phải luôn “giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm cho chúng hóa ra những người già sớm. Chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn.
Vai trò của GV không phải là cầm tay chỉ việc, uốn nắn từng chút một, mà quan trọng là phải truyền được cho các em tinh thần tự học, tự khám phá, chủ động, sáng tạo, giúp các em định hướng được mục đích của việc tự học tập, tự xác định được con đường phấn đấu cho tương lai. Giáo viên phải đề cao vai trò hướng dẫn việc tự học cho học sinh” (Hồ Chí Minh, toàn tập, 1996a). Ngày nay, dù cho giáo dục hiện đại phát triển, nhưng một số phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn còn nguyên giá trị trong việc dạy và học ở nước ta hiện nay. Có thể nói rằng, chủ trương, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục của Khổng Tử thể hiện tư tưởng “Thân Dân” và “Tân Dân” đậm nét.
Trong lịch sử GD phương Đông, Khổng Tử là người đầu tiên xây dựng một nội dung dạy học và phương pháp dạy học tương đối hệ thống, nhiều điều tiến bộ, đến nay vẫn còn giá trị. Tư tưởng của 18 Khổng Tử là nền tảng cho các thế hệ học trò của ông kế thừa, phát triển để tạo nên một Nho giáo đồ sộ chi phối gần như toàn bộ nền GD phương Đông. Bên cạnh đó việc thành lập tư học cũng là một cuộc cách mạng lớn trong GD, lần đầu tiên đưa GD đến cho mọi tầng lớp nhân dân. Nhờ những đóng góp to lớn đó, Ông được tôn vinh là ông tổ của nền giáo dục phương Đông.
Tuy vậy, do ảnh hưởng của lịch sử, của tính giai cấp và còn có những điều chưa chặt chẽ trong lập luận nên các giai cấp thống trị đời sau thường lợi dụng quan điểm của ông, thêm thắt vào để lập luận, khai thác tính duy tâm, siêu hình, tính bắt buộc của lễ giáo. nhằm phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị. Vì thế nhiều người đời sau cho rằng tư tưởng của ông quá khắt khe và đối lập với quyền lợi của nhân dân lao động. Ngày nay, gạt bỏ những yếu tố duy tâm và tư tưởng phong kiến trong quan điểm của Khổng Tử, nhiều nhà GD trên thế giới đã nghiên cứu và đánh giá cao những giá trị trường tồn trong quan điểm của ông.
Những giá trị đó được vận dụng không chỉ trong lĩnh vực dạy học mà đặc biệt được đề cao trong GD đạo đức cho thế hệ trẻ. Chúng ta tin rằng, không phải chỉ trong chế độ phong kiến mà cả trong hiện tại và tương lai, những quan điểm tiến bộ trong quan điểm của Khổng Tử vẫn được nghiên cứu, khẳng định và vận dụng cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nhân loại. Một vài hạn chế trong quan điểm của Komenxki là: (i)chưa quan tâm GD lao động, GD thể chất, thể dục thể thao, văn hóa và nhân văn, hoạt động xã hội; (ii)chưa chú trọng GD lý tưởng, niềm tin cho thế hệ trẻ. Tóm lại, tư tưởng GD của Komenxki, là một trong những tư tưởng hiện đại cho các nhà GD nghiên cứu, phát huy tính tích cực chủ động trong công tác QLGD, phù hợp với nhà trường.
(2) Nghiên cứu về hoạt động học tập hiện đại (a) Tâm lý học ứng dụng vào hoạt động học tập Tâm lý học liên tưởng, thuyết liên tưởng là trường phái triết học - tâm lý học được bắt nguồn từ Triết học của Aristote, đặc biệt là từ Triết học duy cảm Anh. Các đại biểu hàng đầu là Thomas Hobbes, J. Mill… Thuyết liên tưởng chủ yếu nghiên cứu về liên tưởng, đó là liên kết giữa cảm giác với ý tưởng và giữa 19 các ý tưởng với nhau. Theo các nhà liên tưởng, tâm lý con người được cấu thành từ cảm giác và ý tưởng, nghĩa là khi sự vật hiện tượng tác động vào các giác quan thì cảm giác sẽ được hình thành (Trần Thị Hương, 2010).