Mở đầu: * Nội dung gồm ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên ở trường đại học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên ở Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên ở Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh Kết luận và khuyến nghị Phụ lục Tài liệu tham khảo 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ SINH VIÊN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu nước ngoài Sự phát triển của giáo dục luôn gắn với sự phát triển của loài người. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục, từ đó xuất hiện trong khoa học về quản lý giáo dục những yếu tố ảnh hưởng như mô hình giáo dục, môi trường giáo dục và các hoạt động hỗ trợ. Đầu thế kỷ XIX tại các trường đại học Hoa Kỳ, các khoa giảng dạy và một số nhân viên đã xử lý một số chức năng không thuộc nhiệm vụ của mình, ví dụ: chỗ ở, dịch vụ ăn uống, phương pháp rèn luyện và tư vấn cho sinh viên. Công việc này không tập trung vào toàn bộ sinh viên mà chỉ giới hạn cho những người có thể chi trả được.
Tuy vậy, các đối tượng và số lượng sinh viên đến trường đại học bắt đầu mở rộng (nhiều người trong số họ là những phụ nữ được nhận vào đại học lần đầu tiên trong suốt vài thế kỷ). Một số học giả gần như không biết gì về việc quản lý, hỗ trợ và tư vấn cho sinh viên mặc dù đã từng giải quyết các chức năng này. Họ bắt đầu kêu gọi hỗ trợ nhiều hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ mà không có sự hướng dẫn này. Trong cuối thế kỷ XIX, các mô hình nghiên cứu của giáo viên, học giả đã được áp dụng trên khắp thế giới, vượt ra khỏi mục đích chính là giảng dạy.
Từ đó dẫn đến sự ra đời của một nghề mới là công tác sinh viên. Nhân viên làm công tác sinh viên không chỉ phụ trách ăn, ở mà còn chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần đã trở thành một điều cần thiết của nhiều trường đại học. Các hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao, hỗ trợ nghề nghiệp, bố trí việc làm, hỗ trợ tài chính và dịch vụ khác đều trở thành công việc mới ở nhiều quốc gia. Đến những năm 1990, trọng tâm của công tác sinh viên đã chuyển sang hỗ trợ nâng cao kết quả học tập của sinh viên.
Sự phát triển này đã tạo ra hy vọng mới rằng nỗ lực của các bộ phận công tác sinh viên sẽ tạo ra kết quả tốt hơn cho học tập, sinh hoạt của sinh viên. Những nghiên cứu về sinh viên rất quan trọng trong giáo dục đại học vì nhà trường hiểu đầy đủ hơn về những thay đổi mà nhiều sinh viên đại học đang trải qua. Những nghiên cứu này cung cấp các mô hình và khuôn khổ để hiểu rõ hơn về cách sinh viên phát triển, từ đó cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích tốt nhất cho sinh viên. Thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển của Internet, thế giới đang chuyển từ quan điểm đánh giá theo mức độ cần mẫn sang đánh giá năng lực, người học có nhu cầu được đào tạo về các kỹ năng mới như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phản biện, khả năng cộng tác, năng lực đổi mới sáng tạo,… Vì vậy, hoạt động tư vấn, hỗ trợ ra đời và ngày càng phát triển.
Tháng 1 năm 2000, Viện nghiên cứu quản lý giáo dục thuộc Đại học California, Los 6 Angeles (Higher Education Research Institute University of California, Los Angeles) đã công bố tài liệu nghiên cứu ảnh hưởng của Service Learning đến SV như thế nào (How Service Learning Affects Students) của 4 tác giả Alexander W. Yee với nghiên cứu từ năm 1994 và thu thập từ 22.236 SV trong đó, một phần của nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết tồn tại của một đầu mối hỗ trợ học tập cho SV trong các trường có thể giúp việc phải miễn cưỡng tích hợp các hoạt động hỗ trợ đối với giảng viên. Tại Australia: sự quan tâm và hỗ trợ cho SV là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục ở nước này. Australia có môi trường sống an toàn, thanh bình, người dân thân thiện dễ gần, học phí và sinh hoạt phí rẻ hơn một số nước phát triển ở châu Âu và Mỹ, quá trình xin visa nhanh chóng và thuận tiện.
SV các nước có cơ hội trải nghiệm nghề nghiệp, cơ hội nghiên cứu với hạ tầng hiện đại. Australia là nước dẫn đầu trong việc bảo vệ và hỗ trợ các dịch vụ dành cho SV như học Anh ngữ, trợ giúp việc nộp đơn và các thủ tục khác, tiếp đón và hướng dẫn trong quá trình học tập, các dịch vụ y tế, cư trú và sinh hoạt. Các cơ sở giáo dục của Australia rất lưu tâm đến các nhu cầu văn hóa và tôn giáo. Các cơ sở này cung cấp một số dịch vụ theo dõi và hỗ trợ nhằm giúp đỡ SV hội nhập vào môi trường mới tại Australia để hoàn thành việc học tập.
Nhật Bản được biết đến không chỉ là một nước hùng mạnh về kinh tế mà còn được coi là quốc gia có hệ thống giáo dục rất đa dạng và chất lượng. Hệ thống giáo dục của Nhật Bản được đánh giá đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ và Anh. Giáo dục đại học ở Nhật đánh giá sinh viên qua khả năng giải quyết các vấn đề của thực tiễn, khả năng làm chủ bản thân trong tự nhiên và xã hội. Trong đó các Trường Đại học sẽ có chính sách tìm việc làm thêm cho SV, được phép làm thêm 28h/1 tuần.
Khi tốt nghiệp từ bậc trung cấp trường sẽ giới thiệu việc làm cho SV và thời gian làm việc tại Nhật Bản là không giới hạn. Theo Haugen (1999), quản lý dịch vụ hỗ trợ sinh viên hiệu quả cần có giải pháp tích hợp với ba thành phần chính: (1) Chiến lược dựa trên tầm nhìn điều hành, cam kết, lập kế hoạch và hiệu suất. (2) Các quy trình được thiết kế lại tập trung vào sinh viên và phụ huynh trong vai trò của khách hàng được phục vụ bởi trường đại học. Nghiên cứu của Sukhdeep Kaur1 (2016) [46], khẳng định: Dịch vụ hỗ trợ sinh viên là hoạt động được cung cấp để thực hiện quá trình học tập dễ dàng và thú vị hơn cho người học.
Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc trực tiếp vào dịch vụ hỗ trợ sinh viên được cung cấp trong giáo dục đại học. Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng có một mối quan hệ tích cực giữa kết quả học tập của sinh viên và việc sử dụng hiệu quả hệ thống hỗ trợ. Do đó, điều quan trọng là phải hiểu thêm về sinh viên, sử dụng các hệ thống để nâng cao hiệu quả hỗ trợ sinh viên. Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, 7 chúng ta cần thúc đẩy các dịch vụ hỗ trợ sinh viên cao hơn.
Những phát hiện của nghiên cứu, dựa trên quan điểm và nhận thức của sinh viên sẽ tác động đến nhận thức và mang đến các dịch vụ mới hiệu quả cho sinh viên. Các nghiên cứu trong nước Trong bối cảnh hội nhập kinh tế của Việt Nam hiện nay, để phát triển kinh tế, xã hội thì yếu tố phát triển con người, sử dụng nguồn nhân lực một cách có hiệu quả là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Thực hiện chủ trương “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” của BGD&ĐT, các cơ sở đào tạo chuyển từ “đào tạo những gì mình có” sang “đào tạo những gì xã hội cần” nhằm thu hẹp khoảng cách cung cầu giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực. Trong đó, công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm được phát triển nhanh ở các trường đại học của Việt Nam.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành một số quy định về công tác tư vấn, hỗ trợ sinh viên như: Quyết định số 5323/QĐ-BGD ĐT ngày 19/11/2012 về ban hành chương trình công tác học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2012 – 2016; Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” (gọi tắt là Quyết định số 1665); Quyết định số 1230/QĐ-BGDĐT ngày 30/3/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Kế hoạch triển khai Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025” của ngành Giáo dục (Quyết định số 1230), Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các đại học, học viện, các các trường đại học, trường cao đẳng sư phạm và trung cấp sư phạm tập trung triển khai một số nhiệm vụ như sau: 1. Xây dựng các chuyên đề khởi nghiệp đưa vào chương trình đào tạo theo hướng bắt buộc hoặc tự chọn phù hợp với thực tiễn của nhà trường. Bố trí cán bộ, giảng viên kiêm nhiệm công tác hỗ trợ học sinh, sinh viên (HSSV) khởi nghiệp. Thành lập bộ phận hoặc trung tâm hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp trên cơ sở các bộ phận, phòng, ban đã có của nhà trường.
Thiết lập kênh thông tin cung cấp các tài liệu về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, các nguồn học liệu của nhà trường cho HSSV. Tổ chức truyền thông về các hoạt động hỗ trợ HSSV khởi nghiệp, khuyến khích HSSV đề xuất các dự án, ý tưởng với bộ phận tư vấn hỗ trợ HSSV khởi nghiệp của nhà trường để được tư vấn, hỗ trợ. Phối hợp với các doanh nghiệp, mời các chuyên gia tổ chức các khóa đào tạo, các buổi nói chuyện chuyên đề, các diễn đàn nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp cho HSSV. Tổ chức lựa chọn các dự án, ý tưởng có tính khả thi để hỗ trợ ươm tạo tại trường hoặc kết nối đến các Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp trên địa bàn để hỗ trợ ươm tạo, tăng tốc, kết nối đầu tư.
Lập cơ sở dữ liệu về các dự án, ý tưởng khởi nghiệp của HSSV sau khi đã được hỗ trợ, lựa chọn các ý tưởng dự án khả thi và có tính sáng tạo để tham dự ngày 8 Hội khởi nghiệp quốc gia cho HSSV cấp khu vực.