Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên ở trường đại học. Thực trạng quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt-Hàn - ĐHĐN. Biện pháp quản lý hoạt động hỗ trợ sinh viên tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt-Hàn - ĐHĐN.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Lịch sử phát triển của giáo dục luôn gắn với lịch sử phát triển của loài người. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục, từ đó xuất hiện trong khoa học về quản lý giáo dục các yếu tố ảnh hưởng như môi trường giáo dục, các hoạt động hỗ trợ giáo dục và mô hình giáo dục.
Thế kỷ XIX tại các trường đại học Hoa Kỳ, các khoa giảng dạy và một số nhân viên đã xử lý một số chức năng, nhiệm vụ chưa được phân công, ví dụ: chỗ ở, dịch vụ ăn uống, phương pháp rèn luyện và tư vấn cho SV. Công việc này không tập trung vào toàn bộ SV mà chỉ giới hạn cho những người có thể chi trả được. Tuy vậy, các đối tượng và số lượng SV đến trường đại học bắt đầu mở rộng (nhiều người trong số họ là những phụ nữ được nhận vào đại học lần đầu tiên trong suốt vài thế kỷ). Một số học giả gần như không biết gì về việc quản lý, hỗ trợ và tư vấn cho SV mặc dù đã từng giải quyết các chức năng này.
Họ bắt đầu kêu gọi hỗ trợ nhiều hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ mà không có sự hướng dẫn này. Trong cuối thế kỷ XIX, các mô hình nghiên cứu của giáo viên, học giả đã được áp dụng trên khắp thế giới, vượt ra khỏi mục đích chính là giảng dạy. Từ đó dẫn đến sự ra đời của một nghề mới là công tác SV. Nhân viên làm công tác SV không chỉ phụ trách ăn, ở mà còn chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần đã trở thành một điều cần thiết của nhiều trường đại học.
Các hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao, hỗ trợ nghề nghiệp, bố trí việc làm, hỗ trợ tài chính và dịch vụ khác đều trở thành công việc mới ở nhiều quốc gia. Đến những năm 1990, trọng tâm của công tác SV đã chuyển sang hỗ trợ nâng cao kết quả học tập của SV. Sự phát triển này đã tạo ra hy vọng mới rằng nỗ lực của các bộ phận công tác SV sẽ tạo ra kết quả tốt hơn cho học tập, sinh hoạt của SV. Những nghiên cứu về SV rất quan trọng trong giáo dục đại học vì nhà trường hiểu đầy đủ hơn về những thay đổi mà nhiều SV đại học đang trải qua.
Những nghiên cứu này cung cấp các mô hình và khuôn khổ để hiểu rõ hơn về cách SV phát triển, từ đó cung cấp thông tin hữu ích, lợi ích tốt nhất cho SV. Thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển của Internet, thế giới đang chuyển từ quan điểm đánh giá theo mức độ cần mẫn sang đánh giá năng lực, người học có nhu cầu được đào tạo về các kỹ năng mới như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phản biện, khả năng cộng tác, năng lực đổi mới sáng tạo,… Vì vậy, hoạt động tư vấn, hỗ trợ ra đời và ngày càng phát triển. Tại Australia: Sự quan tâm và hỗ trợ cho SV là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục ở nước này. Australia có môi trường sống an toàn, thanh bình, người dân thân 6 thiện dễ gần, học phí và sinh hoạt phí rẻ hơn một số nước phát triển ở châu Âu và Mỹ, quá trình xin visa nhanh chóng và thuận tiện.
Sinh viên các nước có cơ hội trải nghiệm nghề nghiệp, cơ hội nghiên cứu với hạ tầng hiện đại. Australia là nước dẫn đầu trong việc bảo vệ và hỗ trợ các dịch vụ dành cho SV như học Anh ngữ, trợ giúp việc nộp đơn và các thủ tục khác, tiếp đón và hướng dẫn trong quá trình học tập, các dịch vụ y tế, cư trú và sinh hoạt. Các cơ sở giáo dục của Australia rất lưu tâm đến các nhu cầu văn hóa và tôn giáo. Các cơ sở này cung cấp một số dịch vụ theo dõi và hỗ trợ nhằm giúp đỡ SV hội nhập vào môi trường mới tại Australia để hoàn thành việc học tập.
Nhật Bản không chỉ được thế giới biết đến là đất nước phát triển nhanh, mạnh về khoa học kỹ thuật có nền kinh tế rất phát triển mà nền giáo dục nhật bản cũng được thế giới biết đến là nền giáo dục rất phát triển và có chất lượng. Hệ thống giáo dục tuyệt vời của Nhật Bản được đánh giá là đứng thứ 3 thế giới sau Hoa Kỳ và Anh. Việt Nam trở thành nước đứng thứ hai thế giới sau Trung Quốc về số lượng du học sinh đang theo học tại Nhật Bản. Giáo dục đại học ở nhật Nhật đánh giá SV qua khả năng giải quyết các vấn đề của thực tiễn, khả năng làm chủ bản thân trong tự nhiên và xã hội.
Ở Nhật Bản, trường sẽ tìm việc làm thêm cho SV, được phép làm thêm 28 giờ/1 tuần. Khi tốt nghiệp từ bậc trung cấp trường sẽ giới thiệu việc làm cho SV và thời gian làm việc tại Nhật Bản là không giới hạn [16]. Các tác giả đã trình bày những quan điểm khác nhau về những gì quản lý chất lượng tổng thể có thể được áp dụng hoặc thích nghi với công việc quản lý, hỗ trợ SV. Giáo dục đại học hiện đang trong thời kỳ cạnh tranh, các tổ chức giáo dục đại học đang tăng cường cam kết cải tiến liên tục, các nhà quản lý giáo dục phải liên tục tìm kiếm những cách quản lý hiệu quả hơn và áp dụng quản lý chất lượng tổng thể vào công việc của họ.
Các tác giả khuyến nghị, chuyên gia về vấn đề SV phải trở nên hiểu biết hơn về bản chất toàn diện của quản lý chất lượng tổng thể và phải biết cách áp dụng các nguyên tắc trong các bộ phận quản lý SV. Cuốn sách này cung cấp các ví dụ về ứng dụng quản lý chất lượng tổng thể trong công tác SV. Các tác giả đã mô tả phương thức áp dụng mười bốn nguyên tắc của Deming cho công tác SV. Theo Haugen (1999), quản lý dịch vụ hỗ trợ SV hiệu quả cần có giải pháp tích hợp với ba thành phần chính: (1) Chiến lược dựa trên tầm nhìn điều hành, cam kết, lập kế hoạch và hiệu suất.
(2) Các quy trình được thiết kế lại tập trung vào SV và phụ huynh trong vai trò của khách hàng được phục vụ bởi trường đại học. Nghiên cứu của Sukhdeep Kaur1 (2016), khẳng định: Dịch vụ hỗ trợ SV là hoạt động được cung cấp để thực hiện quá trình học tập dễ dàng và thú vị hơn cho người học. Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc trực tiếp vào dịch vụ hỗ trợ SV được cung cấp trong giáo dục đại học. Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng có một mối quan hệ tích cực 7 giữa kết quả học tập của SV và việc sử dụng hiệu quả hệ thống hỗ trợ.
Do đó, điều quan trọng là phải hiểu thêm về SV, sử dụng các hệ thống để nâng cao hiệu quả hỗ trợ SV. Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, chúng ta cần thúc đẩy các dịch vụ hỗ trợ SV cao hơn. Những phát hiện của nghiên cứu dựa trên quan điểm và nhận thức của SV sẽ tác động đến nhận thức và mang đến các dịch vụ mới hiệu quả cho SV [45]. Nghiên cứu ở Việt Nam Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế toàn cầu, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT theo xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Thế giới đang không ngừng thay đổi và phát triển kéo theo sự cạnh tranh gay gắt của thị trường lao động quốc tế. Để tham gia và hội nhập vào thị trường quốc tế thì nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố quyết định đến sự thành công của các quốc gia trên thế giới. Vì vậy việc đào tạo phát triển và sử dụng nguồn nhân lực có chất lượng cao hiện nay đang là vấn đề rất cấp thiết hiện nay. Thực hiện chủ trương “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” của Bộ GDĐT, các cơ sở đào tạo chuyển từ “đào tạo những gì mình có” sang “đào tạo những gì xã hội cần” nhằm thu hẹp khoảng cách cung cầu giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.
Trong đó, công tác tư vấn nghề nghiệp, việc làm và hỗ trợ khởi nghiệp được phát triển nhanh ở các trường đại học của Việt Nam. Bộ GDĐT đã ban hành một số quy định về công tác tư vấn, hỗ trợ SV như: Quyết định số 68/2008/QĐ-BGDĐT ngày 9/12/2008 ban hành quy định về công tác hướng nghiệp, tư vấn việc làm trong các cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp; Quyết định số 5323/QĐ-BGDĐT ngày 19/11/2012 ban hành chương trình công tác học sinh, SV các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2012 - 2016; Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT ngày 05/4/2016 của Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành Quy chế Công tác sinh viên đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy ban hành; Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, SV khởi nghiệp đến năm 2025”. Quyết định số 1230/QĐ-BGDĐT ngày 30/3/2018 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về việc ban hành Kế hoạch triển khai Đề án “Hỗ trợ học sinh, SV khởi nghiệp đến năm 2025” của ngành Giáo dục Bộ GDĐT yêu cầu các đại học, học viện, các các trường đại học tập trung triển khai một số nhiệm vụ: - Xây dựng các chuyên đề khởi nghiệp đưa vào chương trình đào tạo theo hướng bắt buộc hoặc tự chọn phù hợp với thực tiễn của nhà trường. - Bố trí cán bộ, GV kiêm nhiệm công tác hỗ trợ SV khởi nghiệp.
Thành lập bộ phận hoặc trung tâm hỗ trợ SV khởi nghiệp trên cơ sở các bộ phận, phòng, ban đã có của nhà trường. - Thiết lập kênh thông tin cung cấp các tài liệu về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, các nguồn học liệu của nhà trường cho SV. Tổ chức truyền thông về các hoạt động hỗ trợ SV khởi nghiệp, khuyến khích SV đề xuất các dự án, ý tưởng với bộ phận tư vấn hỗ trợ khởi nghiệp của nhà trường để được tư vấn, hỗ trợ.