phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo. Nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý sinh viên Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý sinh viên tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN nhằm giúp sinh viên có cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp sau tốt nghiệp 9 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Từ khi ra đời GDĐH đã giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục vì nó tác động trực tiếp đến trình độ phát triển KH&CN của mỗi quốc gia. Cuộc cách mạng công nghệ và xu thế xây dựng nền kinh tế tri thức ở nhiều quốc gia trong vài thập kỷ gần đây càng khẳng định vai trò của GDĐH.
Chiến lược lấy GDĐH làm đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội đã được nhiều quốc gia áp dụng để giành vị trí dẫn đầu trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt hiện đại. Trước thời kỳ đổi mới, kinh tế xã hội nước ta được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung và GDĐH cũng không nằm ngoài cơ chế đó. Chỉ tiêu đào tạo hàng năm được giao cho trường đại học theo kế hoạch nhà nước, kinh phí đào tạo kể cả học bổng cho SV được Nhà nước cấp từ ngân sách, SV tốt nghiệp được Nhà nước phân phối cho các cơ sở kinh tế quốc doanh và cơ quan nhà nước. Với cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ đó, chương trình đào tạo cũng được quy định xem như một sự đặt hàng, đội ngũ cán bộ quản lý, viên chức, giáo chức chủ yếu cũng được quản lý từ Bộ, cơ quan chủ quản của các trường đại học.
Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6, GDĐH nước ta bắt đầu được đổi mới. Trong quá trình đổi mới, quyền tự chủ của các trường đại học ngày càng được nâng cao. Về tài chính, trường đại học có quyền tìm thêm các nguồn ngoài ngân sách nhà nước, qua học phí củánV và nhiều thu nhập khác nhờ các hợp đồng liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học, sản xuất, dịch vụ xã hội. Về kế hoạch, ngoài chỉ tiêu đào tạo do Nhà nước giao, trường đại học có thể đề xuất quy mô tuyển sinh dựa vào khả năng đào tạo của mình và nhu cầu của xã hội.
Về mặt chuyên môn, trường đại học có quyền dựa vào những định mức tổng quát của Bộ về khung chương trình và tỷ lệ các khối kiến thức để xây dựng chương trình đào tạo các ngành chuyên môn, có quyền đề xuất các 10 z ngành đào tạo mới phù hợp với nhu cầu của xã hội, có quyền tổ chức biên soạn sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy. Về quan hệ quốc tế, các trường đại học có quyền đặt quan hệ và ký kết các văn bản hợp tác với các trường đại học nước ngoài. Rõ ràng quyền tự chủ đã tạo điều kiện cho các trường đại học chủ động triển khai rất nhiều hoạt động có hiệu quả, góp phần đưa hệ thống GDĐH nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu và mang lại nhiều thành tựu mới. Ngoài việc đổi mới về cơ chế quản lý, một số mô hình trường đại học mới ra đời, trong đó có hai đại học quốc gia và đặc biệt là các trường đại học dân lập.
Các đại học quốc gia hoạt động theo một quy chế riêng, có mức độ tự chủ khá cao, các trường đại học dân lập hoạt động theo những quy định quyền tự chủ khá rộng rãi về tổ chức, tài chính và học thuật. Như vậy, quá trình đổi mới GDĐH cũng là quá trình tăng cường quyền tự chủ của các trường đại học. Trong quá trình đó, việc quản lý của Bộ cũng đang trong tiến trình chuyển dần sang quản lý nhà nước, giảm dần tác động trực tiếp đối với các trường đại học. Những thành tựu chính của quá trình đổi mới GDĐH được thể chế hóa trong Luật Giáo dục ban hành cuối năm 1998.
Luật giáo dục sửa đổi ban hành năm 2005. Trong Luật Giáo dục có một điều quan trọng nhất về cơ chế quản lý mới đối với GDĐH là khẳng định quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội (trong Luật gọi là tự chịu trách nhiệm) của các trường đại học. GDĐH nước ta đang ở trong một thời kỳ chuyển tiếp. Quy luật chung của thời kỳ chuyển tiếp là tồn tại đan xen cả hai cơ chế quản lý cũ và mới, để dần dần xóa bỏ cơ chế quản lý cũ khẳng định cơ chế quản lý mới.
Quyền tự chủ (autonomy) và trách nhiệm xã hội (accountability) là hai khái niệm sóng đôi rất quan trọng trong việc tổ chức, quản lý và điều hành hệ thống GDĐH trong nền kinh tế thị trường được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Chính quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội là sợi chỉ xuyên suốt hệ thống quản lý GDĐH nước ta trong tiến trình hoàn thiện dần trong nền kinh tế thị trường. 11 z Hiện nay GDĐH nước ta vẫn đang trong trạng thái chuyển tiếp. Những thể chế mới đã, đang ra đời và dần dần thay thế những thể chế cũ.
Tư duy giáo dục cần đổi mới để quán triệt được và thúc đẩy những đổi mới về thể chế. Những người có trách nhiệm hoạch định chính sách đổi mới GDĐH và những người quản lý thực thi đổi mới đều cần nghiên cứu và suy ngẫm sâu sắc để tìm ra được những giải pháp thích hợp nhất. Khi nhận định về hai thập niên đổi mới vừa qua, nhiều người cho rằng sự phát triển của giáo dục nói chung và của GDĐH nói riêng ở nước ta là quá chậm so với sự phát triển kinh tế, do đó giáo dục chẳng những không thúc đẩy mà còn cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Tại thời điểm hiện nay, khi chúng ta đang đứng trước những thách thức hết sức gay gắt của quá trình toàn cầu hóa và thương mại hóa GDĐH, hơn bao giờ hết các trường đại học cần tự đổi mới mình để có thể tồn tại và phát triển.
Và để đổi mới toàn diện và cơ bản trường đại học việc đổi mới quản lý nhà trường là điều kiện tiên quyết tất yếu. Trong những năm gần đây tình trạng SV các trường đại học, cao đẳng sau khi tốt nghiệp không tìm được việc làm hoặc làm việc không phù hợp với chuyên môn đào tạo có xu hướng tăng lên. Theo số liệu khảo sát của dự án GDĐH về việc làm cho SV sau tốt nghiệp thì trong khoảng 200.00ơiSV ra trường hằng năm thì chỉ có 30% đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, 45- 62% SV tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp, trong đó chỉ có 30% là làm đúng ngành nghề được đào tạo. Trong khi SV tốt nghiệp không có việc làm thì các doanh nghiệp lại thiếu lao động một cách trầm trọng cả về số lượng và chất lượng.
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2007 có khoảng 260.000 doanh nghiệp đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, trong đó số lượng các doanh nghiệp mới thành lập năm 2007 khoảng 50.000 doanh nghiệp, năm 2008 là 52.000 doanh nghiệp, nên nhu cầu lao động của các doanh nghiệp là rất lớn. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, dự kiến năm 2010, Việt Nam sẽ có khoảng 500.000 doanh nghiệp, tạo thêm 2,7 triệu chỗ làm mới cho người 12 z lao động. Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, số lao động làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất hiện có khoảng 905.221 người, đa số là lao động phổ thông, lao động có kỹ thuật chiếm một tỷ lệ khá nhỏ. Việt Nam đang đứng trước thực trạng là lao động phổ thông không thiếu, nhưng rất thiếu lao động có kỹ năng được đào tạo theo tiêu chuẩn công nghiệp.
Theo số liệu thống kê của 38 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và 20 ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuất thì xu hướng nhập khẩu lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có xu hướng tăng lên. Trong cơ cấu lao động nước ngoài, lao động quản lý chiếm 31,8%, lao động làm chuyên gia kỹ thuật chiếm 41,2% và các lao động khác chiếm 27%. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay, Việt Nam có thể mất lợi thế về lao động rẻ, dồi dào nếu nhân lực được đào tạo ra không đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh số SV tốt nghiệp hàng năm không tìm kiếm được việc làm ngày càng tăng thì số SV có việc làm cũng không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng.
SV các trường đại học sau khi được tuyển dụng thường phải tiếp tục đào tạo thêm từ 2 đến 3 năm nữa mới có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng, điều này gây lãng phí rất lớn về thời gian và tiền bạc của cả người lao động và nhà tuyển dụng. Nói chung, theo đánh giá của các nhà tuyển dụng sau khi tiếp nhận SV tốt nghiệp về làm việc thì: + Nhiều SV ra trường chưa thể làm ngay được công việc chuyên môn. + SV không thể tự lên kế hoạch học tập để hoàn thiện bản thân trong công việc. + SV thiếu hoặc chưa có những kỹ năng mềm cần thiết phục vụ cho công việc được giao.
Sinh viên thường thiếu hiểu biết các chuẩn mực nghề nghiệp, các yêu cầu làm việc chuyên nghiệp và dễ nản khi gặp việc khó, nhiều khi thiếu tinh thần học hỏi. Thực trạng trên cho thấy công tác đào tạo của các trường đại học 13 z chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà sử dụng lao động; nhà trường chưa thực sự gắn với xã hội, đào tạo chưa gắn với sử dụng. Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, một vấn đề thực tế đang đặt ra, đòi hỏi rất cấp thiết là phải giải quyết mối quan hệ giữa một bên là nhà trường, SV với một bên là nhu cầu xã hội để nhằm đạt được mục đích chung là “cung” gặp “cầu”, “cần” gặp “có” nhằm đưa lại trạng thái cân bằng cung - cầu. Đối tượng chủ yếu của thị trường này là hàng hóa, dịch vụ sức lao động, đây là loại hàng hóa đặc biệt, nhưng đối với nhà cung ứng là trường Đại học thì đó là “Hàng hóa, dịch vụ đặc biệt chất lượng cao”.
Nhà trường với tư cách là nơi cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nền kinh tế - xã hội.