CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VẺ QUẦN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HÓA TRUYEN THONG CHO HỌC SINH Ở CÁC TRUONG PHO THONG DAN TOC BAN TRU TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ớ nước ngoài 'Văn hỏa là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học để cập đến từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng. Ở phương Đông, Không Tir (551 - 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có “đức.
nhân”, người “quân tử” cỏ đủ phẩm cách và năng lực thì hành “đạo lớn”. Ông đã viết tac phim bat hu “Dich, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu”, trong đó rất xem trọng việc giáo dục đạo đức. Petxtalôdi (1746 — 1827), một trong những nhả giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX, đã đánh giá rất cao vai trỏ của GDVH. Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giảo dục là giáo dục văn hóa cho trẻ em trên cơ sở chung nhất lả tình yêu về con người.
Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình, trước hết lả đổi với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn bè và mọi người trong xã hội.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: *Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có. tắt cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thê chất, tỉnh cảm, nhận thức, năng lực, óc thâm mỹ và có khả năng cảm thụ được tấ cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh” (Hà Thể Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1998). Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đẻ giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình).
Trong tác phâm nảy ông đã nhắn mạnh đến vấn để giáo dục văn hóa. thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thé, Theo A. Mugi, cho rằng: “ðán sắc văn hỏa không thể được xem xét như một sự co lại và đông cụ lại của những giá trị bắt biến” [25]; Theo Nich Gi-oa-kin, thì: “Bản sắc văn hóa không phải là quả trình qua đó người ta tổn tại mà quá trình qua đỏ. mà người ta trở thành”; theo cách tiếp cận của tác giả Liu Zhongmin ở hai tầng diện tâm lý và hành vi "Bản sắc văn hóa” mà Trần Ngọc Thêm đã khái quát lại: sự đa dạng về văn hóa là một hiện tượng phố biến cũng là quy luật phát triên của mỗi quốc gia.
Ông Lý Quang Diệu cho ring: “Trong van dé van hóa và phát triển thì việc bảo tôn văn hỏa truyền thống vẫn là vẫn đề lớn của thế giới đặc biệt là các nước châu 4. Néu quốc gia nào không duy trì được bản sắc của mình thì nước đỏ sẽ đánh mắt khả năng tân tại của mình [1T] Văn hoá là một dỏng chảy không ngừng. Bản sắc dân tộc trong văn hoá cũng không đứng yên mãi mãi. Như vậy, vẫn đề giáo dục văn hóa truyền thống đã trở thành mối quan tâm của của tất cả các nước trên thế giới.
Chính vi thế phải kế thừa có chọn. lọc di sản văn hoá, truyền thống dân tộc để bảo vệ và phát huy nó trong điều kiện mới. nghĩa là làm cho bản sắc văn hoa dân tộc trong văn hoá mang tính thời đại. Các nghiên cứu ở Việt Nam 'Việt Nam là một quốc gia với lịch sử trên 4000 nam dựng nước và giữ nước, có trên 54 dân tộc cùng chung sống.
Với bề dảy lịch sử xây dựng vả bảo vệ tô q c, sự phong phú trong đời sống vật chất, tình thần và sự đa dạng về các tộc người cùng chung sống xen kẻ, đoản kết, giúp đỡ lần nhau để phát triển đã tạo nên một bản sắc. văn hóa Việt Nam vô cùng độc đáo. Để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa ấy, nhiều Nghị quyết của Đảng, Chỉ thị của Nhà nước đã đề cập đến GD truyền thống văn hóa cho HS, sinh viên như: Văn. kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (Đảng cộng sản Việt Nam, 1991, 1998).
Chủ tịch Hồ Chỉ Minh lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hỏa thể giới, trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào với phong trào cách mạng Việt Nam, chú trọng đến việc GD. bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Điều đó được thể hiện trong các tác phẩm của người (Hỗ Chí Minh, 1970, 1992). Người đã chí rõ những mục tiêu cơ bản mã cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phai triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô.
dịch của văn hoá để quốc, đồng thời phát triển những truyền thông tốt đẹp của văn hoá. dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thể giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học vả đại chúng” (Hỗ Chỉ Minh, 1996), Quan điểm của người được thể hiện rõ ràng “Cảng thấm nhuẳn chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu thì cảng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy nhiêu" (Hỗ Chỉ Minh, 1996). Người yêu cầu phải biết giữ gìn vốn văn hoả quý báu của. dân tộc, khôi phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc, loại bỏ.
những yếu tổ tiêu cực trong đời sống văn hoá tình thần của nhân dân. Ngư nêu rõ sức mạnh đặc biệt của văn hóa đối với sự phát triển của dân tộc: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Người khăng định: Trong sự nghiệp kiến thiết đất nước, có bến lĩnh vực cần phải coi trọng ngang nhau là kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đó là quan điểm nhất quán thể hiện tầm nhìn thời đại của Người mà sau này Dang ta tiếp tục vận dụng và phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển nễn văn hóa Việt Nam.
Trong chương trình giáo dục và đảo tạo (GD&ĐT) ở các cấp học, bậc học, những giá trị bản sắc văn hóa cúa dân tộc đã được lựa chọn, xây dựng thành các hoạt động hữu ích và tổ chức cho người học. Bộ GD&ĐT va Bộ Văn hóa, thể thao và du lich đã có Hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phô thông. Trung tâm GD thường xuyên nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của di sản văn hóa; rèn luyện tỉnh chủ động, tích cực, sảng tạo trong đổi mới phương pháp học tập vả rẻn luyện; góp phần nâng cao chất lượng vả hiệu quả GD. phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu, tài năng của HS (Bộ Giáo dục và Đảo tạo, Bộ 'Văn hóa, thể thao và du lịch, 2013).
Ngoài ra, cỏn có nhiễu công trình nghiên cứu về văn hóa ở các góc độ tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả, tác phẩm trong nước như. “Giá trị tình thân truyền thống của dân tộc Liệt Nam" ` (Trần Văn Giảu, 1980), tác pha “Co so van hoa Viet Nam”, "Tim ve Thém, 1997, 2001): đã cung cấp những kiến thức, khải niệm cơ sở nền tảng cho ngành văn hỏa học. Với quan điểm dân tộc học, GS. Phan Hữu Dật có tác phẩm "Gáp phẩn nghiên cứu dân tộc học Việt Nam" (Phan Hữu Dật, 2004).
Tác giả Nguyễn Hồng Hà "Văn hóa truyền thông dân tộc với GD thế hệ trẻ " (Nguyễn Hồng Hà, 2001). Trong báo cáo chính trị tại Đại hỏi toản quốc lần thứ II Đáng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hỗ Chí Minh đã nêu rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá để quốc, đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cải mới của văn hoà tiến bộ thể giới để xây dựng một nền văn hoả Liệt Nam cỏ tính dân tộc, khoa học và đại ° [24]. Chủ trương trên thể hiện rõ ràng quan điểm của Chú tịch Hỗ Chí Minh về giá trị văn hoá dân tộc. Người cho rằng: “Công thẩm nhuận chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu thì càng phải coi trọng những tru thông văn hoá tốt đẹp của cha ông bẩy! nhiêu "[24].
Người đòi hỏi phải biết giữ gìn vốn văn hoá quý bảu của dân tộc, khôi phục những yếu tổ tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc, loại bỏ những yếu tổ tiêu cực trong đời sống văn hoá tỉnh thần của nhân dân. Đây là quan điểm bảo tốn bản sắc văn hoá dân tộc có chọn lọc của Hỗ Chí Minh. Tư tưởng Hỗ Chí Minh vé van dé nay là kho tàng lý luận có tinh thực tiễn vô giá đề lại cho Đảng vả nhân dân ta tiếp tục nghiên cứu vận dụng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trong công cuộc hội nhập đất nước hiện nay, 1. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quân lý, quản lý giáo dục a. Khải niệm quản lý Hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phức tạp và phong phú. Chính vì sự phong phú đó nên khi nói đến QL đã có rất nhiều khái niêm khác nhau và tư tưởng. QL cũng khác nhau.
Theo Harold Koontz (nhà QL người Mỹ) cho rằng: "Quán jý là một yếu tổ cẩn thiết để đám bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân ". Do vậy, QL với tư cách thực hành thì nó là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức làm cơ sở cho nó có thể coi như là một khoa học [I]- Theo quan điểm cúa lí thuyết hệ thông: “Quản lý là phương thức tác động cỏ chủ định của chú thể quản lý lên hệ thông. bao gồm hệ các quy tắc, các rằng buộc về hành ví đổi với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hop li của cơ cầu và đưa hệ thông đạt tới mục tiêu”. Thuật ngữ *®Quản lý" (tiếng Việt g đã lột tả được bản chất hoạt động QL trong thực tiễn.
Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quả trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gin, duy trì ở trạng thái ôn định: quá tức là chỉ lo đến việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới, mả không đặt trên nền tảng của sự ôn. định thì sự phát triên của tổ chức sẽ không bền vững.