Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh THCS trong giai đoạn hiện nay. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh trƣờng THCS Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh trƣờng THCS Nguyễn Hiền, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về sức khỏe sinh sản và giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Sức khỏe sinh sản (SKSS) và giáo dục SKSS là vấn đề đƣợc các nhà khoa học, các tổ chức y tế, giáo dục trên thế giới dành sự quan tâm nghiên cứu. Các vấn đề nhƣ khái niệm SK, SKSS, sự cần thiết phải GD SKSS cho vị thành niên, các nội dung, cách thức GD SKSS cho vị thành niên là các vấn đề đƣợc chú ý nghiên cứu nhiều nhất.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa về SKSS: “Sức khỏe sinh sản là một trạng thái khỏe mạnh, hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thƣơng hệ thống sinh sản” [32, tr. Đồng thời, WHO cũng cho rằng quyền tiếp cận với sức khỏe sinh sản toàn diện, đƣợc cung cấp thông tin và dịch vụ để mỗi các nhân có thể đƣợc tự do lựa chọn thông tin và sử dụng các dịch vụ về SKSS là một trong những quyền của con ngƣời [32]. Lloyd trong nghiên cứu “Vai trò của nhà trƣờng trong việc giáo dục sức khỏe tình dục và sinh sản của thanh thiếu niên ở các nƣớc đang phát triển” đã khẳng định tầm quan trọng của nhà trƣờng khi cho rằng trong môi trƣờng nhà trƣờng HS đƣợc giáo dục SKSS sẽ quản lý tốt bản thân hơn khi lớn lên và có thể duy trì sức khỏe của bản thân cũng nhƣ sức khỏe của gia đình [29]. Nghiên cứu về sự cần thiết phải giáo dục SKSS, tác giả Mckay 6 Alexander đƣa ra “Những câu hỏi thƣờng gặp về sức khỏe tính dục” [30], trong đó phân tích tình hình giáo dục SKSS trong nhà trƣờng.
Tác giả cũng xây dựng các phƣơng pháp giáo dục SKSS cho HS, nhất là HS lứa tuổi vị thành niên. Tác giả Philonova Onga Vlagimirova đã xây dựng “Phƣơng pháp hình thành kiến thức về sức khỏe sinh sản thông qua khóa học “Những cơ sở về an toàn cuộc sống ở lớp 8-10”. Các phƣơng pháp đƣợc hình thành dựa trên việc phân tích các vấn đề lý luận về giáo dục SKSS cho vị thành niên và khảo sát mức độ hiểu biết của HS về SKSS [Dẫn theo 14]. Bên cạnh yếu tố nhà trƣờng thì yếu tố gia đình, xã hội cũng có sự ảnh hƣởng tới nhận thức của trẻ vị thành niên về SKSS.
Trong nghiên cứu về K năng sống tình dục, sức khỏe sinh sản và k năng sống cho thanh thiếu niên Giáo dục: Hƣớng dẫn cho giảng viên của Hội Chữ thập đỏ và Trăng lƣỡi liềm đỏ đã nhận định: “Vòng kết bạn của một ngƣời trẻ có ảnh hƣởng lớn đến hành vi cá nhân cho dù đó là hành vi an toàn hoặc nguy hiểm. Giáo dục ngang hàng sử dụng ảnh hƣởng ngang hàng tích cực. Giới trẻ nhìn vào các bạn bè để biết thông tin về các vấn đề nhạy cảm hoặc các vấn đề thƣờng không công khai thảo luận trong một nền văn hóa cụ thể. Giáo dục đồng đẳng cung cấp cho những ngƣời trẻ tuổi cơ hội tham gia vào các hoạt động nâng cao trình độ hiểu biết, thái độ, hành vi, kĩ năng và kiến thức của họ.
Do đó, họ cũng nhận đƣợc các thông tin và dịch vụ cần thiết để bảo vệ sức khỏe của họ” [28]. Nghiên cứu cũng rút ra kết luận cho thấy nhận thức của trẻ vị thành niên chịu sự tác động trực tiếp từ bạn bè, môi trƣờng học tập, làm việc của họ. Do đó, việc cung cấp thông tin cũng nhƣ các k năng về SKSS cần thiết để trẻ vị thành niên có thể bảo vệ mình và những ngƣời xung quanh trong suốt thời niên thiếu là điều vô cùng cần thiết và quan trọng. Nhƣ vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra khái niệm, các quá trình phát triển thể chất, tinh thần, năng lực và hành vi của lứa tuổi đến các ảnh hƣởng tâm 7 sinh lý bởi yếu tố môi trƣờng gia đình, nhà trƣờng, xã hội.đến nhận thức về SKSS của HS; đồng thời các nghiên cứu cũng phân tích thực trạng thiếu hiểu biết kiến thức SKSS ở lứa tuổi HS.
Từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm tăng cƣờng kiến thức, hỗ trợ giải pháp để HS xây dựng đƣợc lối sống tích cực, lành mạnh và an toàn hơn Ở Việt Nam những năm qua vấn đề SKSS và GD SKSS cho HS rất đƣợc quan tâm. Đặc biệt, vấn đề giáo dục SKSS cho HS đƣợc Bộ GD – ĐT và đƣa vào chƣơng trình giáo dục chính khóa bậc THCS trên cơ sở tích hợp nội dung của nhiều môn học nhƣ Giáo dục công dân, Sinh học, Hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo dục kĩ năng sống, Ngữ văn. Trong nghiên cứu “Nhà trƣờng với công tác giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản vị thành niên”, tác giả Đặng Quốc Bảo nhấn mạng tầm quan trọng đặc biệt của nhà trƣờng trong công tác giáo dục SKSS cho HS, từ đó tác giả đề xuất một số cách thức giáo dục SKSS cho HS trong nhà trƣờng [2]. Cũng nghiên cứu về giáo dục SKSS trong nhà trƣờng, tác giả Nguyễn Hữu Châu và nhóm nghiên cứu đã thiết kế các môdun GD SKSS cho HS thông qua các hoạt động ngoại khóa [5].
Tác giả Nguyễn Thế Hùng lại quan tâm tới vai trò của nhân tố gia đình, cha mẹ phụ huynh trong việc hình thành những hiểu biết về SKSS cho HS. Tác giả đề xuất các hệ thống giải pháp nhằm bồi dƣỡng năng lực giáo dục SKSS cho cha mẹ HS gồm: xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục SKSS VTN, tổ chức hoạt động truyền thông giáo dục cộng đồng; bồi dƣỡng cho cha mẹ thông qua các sách chuyên đề giới tính, tình dục [15]. Ở phƣơng diện giáo dục SKSS rộng hơn, tác giả Nguyễn Tấn Thắng đề xuất hoàn thiện và bổ sung thêm hoạt động giáo dục SKSS cho HS. Trong luận án tiến sĩ của mình, dựa trên cơ sở nghiên cứu thực trạng SKSS cho HS trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, tác giả đƣa ra “Các biện pháp giáo dục SKSS VTN ở miền núi tỉnh Quảng Nam” [22] bao gồm việc 8 lồng ghép giáo dục SKSS trong Kế hoạch hành động về Dân số, Gia đình và Trẻ em – Chăm sóc SKSS; trong các chƣơng trình, dự án phát triển kinh tế miền núi; nhƣng vẫn lƣu ý nhân tố nhà trƣờng (bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ về SKSS cho đội ngũ giáo viên) kết hợp với gia đình và xã hội (nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các bậc cha mẹ, cộng đồng.) Ngoài ra, vấn đề SKSS còn dành đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của các cơ quan, đơn vị và cá nhân thực hiện trong các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo, các tổ chức truyền thông, hỗ trợ phát triển cộng đồng nhƣ: Nghiên cứu Giáo dục học ở các trƣờng đại học, Ủy ban Dân số, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục, các viện, trung tâm nghiên cứu trong cả nƣớc.
Những nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh Thực hiện các chiến lƣợc của Chính phủ, Bộ GD – ĐT đã ban hành các Quyết định và Chỉ thị về GD SKSS trong nhà trƣờng. Tiêu biểu nhƣ tổ chức và triển khai Dự án VIE 94 P01, Chƣơng trình tích hợp giáo dục dân số trong hệ thống giáo dục phổ thông chính quy, đƣa nội dung giáo dục dân số tích hợp vào chƣơng trình giáo dục cho học sinh phổ thông, phối hợp với Uỷ ban quốc gia DS-KHHGĐ biên soạn tài liệu tập huấn nâng cao năng lực quản lý chƣơng trình giáo dục dân số - sức khỏe sinh sản VTN trong trƣờng THPT [3]. Ngoài ra, các tổ chức đoàn thể nhƣ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ. cũng đã quan tâm và tham gia quản lý hoạt động GD SKSS theo chức năng của mình.
Năm 1998, Trung ƣơng Đoàn cũng triển khai Dự án Hỗ trợ tăng cƣờng SKSS VTN – VIE 91 P12 nhằm tuyên truyền các kiến thức về SKSS cho VTN để các em có nhận thức đúng đắn, lành mạnh về giới tính và quan hệ tình dục, HIV, giảm nguy cơ lây nhiễm HIV. Trung ƣơng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã phối hợp với một số đơn vị, triển khai trong phạm vi cả nƣớc Chƣơng trình giáo dục kĩ năng sống cho VTN với những nội dung nhƣ: Quyền trẻ em, chống xâm hại tình dục trẻ em, giáo dục giới tính và các vấn đề về SKSS VTN. Trung ƣơng Đoàn đã 9 triển khai Chƣơng trình chăm sóc SKSS (RHITA) trên phạm vi 7 tỉnh, thành phố nhằm tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi vị thành niên. Trong bài viết “Nâng cao khả năng quản lý giáo dục DS – SKSS cho hiệu trƣởng trƣờng THPT” tác giả Đặng Quốc Bảo đã phân tích tầm quan trọng của GD SKSS và vai trò của hiệu trƣởng trƣờng THPT trong việc GD SKSS cho HS, các giải pháp QL của hiệu trƣởng đối với hoạt động này.
Theo tác giả, để nâng cao hiệu quả hoạt động GD DS – SKSS cho HS, hiệu trƣởng trƣờng THPT phải có nhận thức đúng đắn về tính cấp thiết của GD SKSS, từ đó có những giải pháp QL hoạt động này nhƣ phải tăng cƣờng tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện hoạt động GD SKSS cho HS thông qua các bộ môn nhƣ Sinh học, Giáo dục công dân, huy động cộng đồng tham gia GD SKSS cho HS. Ba yếu tố mà hiệu trƣởng cần nắm vững là thông tin, giáo dục và truyền thông [2]. Công trình nghiên cứu Sức khỏe sinh sản tình dục vị thành niên và thanh niên Việt Nam: thực trạng và nhu cầu chƣa đƣợc đáp ứng cũng chỉ ra rằng “giữa các chính sách về SKSS TD VTN và hiện thực hóa, triển khai các chính sách đó trong cộng đồng vẫn tồn tại một khoảng trống lớn” [23]. Ngoài ra có một số luận văn, bài viết về QL hoạt động GD SKSS cho HS ở trƣờng THPT ở một số địa bàn khác, tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu còn nhỏ lẻ.