Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh dân tộc nội trú. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh dân tộc nội trú tại Trường Hữu Nghị T78. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh dân tộc nội trú tại Trường Hữu Nghị T78. 17 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH DÂN TỘC NỘI TRÚ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Khi nghiên cứu về các HĐGDNGLL các nhà giáo dục học ở một số nước trên thế giới như: Nhà sư phạm người Nga T.Comenxki - ông tổ của nền sư phạm cận đại; nhà sư phạm A.Côpchiêva; các công trình nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục Mỹ, Nhật. rất coi trọng, khẳng định ý nghĩa to lớn của HĐGDNGLL đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh, sinh viên. HĐGDNGLL là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới.
Nó được chú trọng nghiên cứu để trở thành một công cụ hữu ích giúp học sinh học tập đạt kết quả cao hơn và phát triển toàn diện về nhân cách. Có thể nói HĐGDNGLLlà một phần quan trọng không thể thiếu trong các chương trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo các nhà giáo dục nước Anh, HĐGDNGLL giúp học sinh gắn kiến thức trên ghế nhà trường vào cuộc sống. Bà Ruth Kelly - Bộ trưởng Giáo dục Anh nhận xét: “Các hoạt động giáo dục ngoài giờ, nhất là các hoạt động ngoại khóa đã làm giàu chương trình học, tạo dựng niêm tin và củng cố kỹ năng cho học sinh” [22] C.Anghen (1820 - 1895) đã có nhiều đóng góp to lớn cho nền giáo dục hiện đại: cung cấp cho khoa học giáo dục một phương pháp luận khoa học vững chắc để xây dựng khoa học giáo dục, vạch ra qui luật tất yếu của xã hội tương lai là đào tạo con người phát triển toàn diện.
Muốn vậy phải kết hợp giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động trong việc thực hiện giáo dục kĩ thuật tổng hợp, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động xã hội [26]. 18 z Các nhà giáo dục Nhật Bản [23] nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Ở Nhật Bản, hầu hết các trường học học sinh đều học bán trú, do vậy thời gian dành cho hoạt động ngoài giờ lên lớp khá nhiều. Tuy nhiên, họ sử dụng các hoạt động này chỉ nhằm giáo dục truyền thống và giáo dục đạo đức cho học sinh.
Ở Mỹ, theo nghiên cứu so sánh của các nhà giáo dục về chất lượng giáo dục của Mỹ [32] và các nước trong khối G8 thì HĐGDNGLL là một trong những điều kiện mang lại chất lượng giáo dục cao. Công trình nghiên cứu gần đây của các nhà giáo dục Mỹ cho thấy tác dụng to lớn của HĐGDNGLL đối với đời sống của học sinh: + Có tham gia vào HĐGDNGLL: 8/10 học sinh có kết quả học tập cao; Có hành vi đạo đức tốt hơn; Có mối quan hệ và xúc cảm tốt hơn; Không sử dụng ma tuý. + Không tham gia vào HĐGDNGLL: 49% có sử dụng ma tuý; 37% trong độ tuổi 13 đến 19 làm bố (hoặc mẹ) sớm; Có hiện tượng sử dụng bạo lực trong nhà trường,. Cô men xki [18] ông tổ của nền sư phạm cận đại trong thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hung ga ri đã rất coi trọng hoạt động ngoại khoá.
Ông cho học sinh tham gia biểu diễn sân khấu để giúp các em ghi nhớ sâu sắc những nội dung cần thiết. Ông thấy rằng những chàng trai thường ngày so ro, rụt rè nay ra trước công chúng với vẻ tự tin, xử sự điềm tĩnh. Những con người mới mấy tuần lễ trước còn đọc câu ngắc ngứ, bây giờ đã có thể nói một đoạn độc thoại dài mà không phạm lỗi hoặc giải thích những khái niệm một cách hùng hồn đầy tính thuyết phục. Cô men xki ở thời đó đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức học tập ở ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện cá tính cho học sinh, đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới đầy tính thuyết phục.
Cai - rốp, nhà giáo dục người Nga, đã viết: “Trong kế hoạch công tác 19 z của nhà trường cần dành một mục riêng cho hoạt động ngoài giờ lên lớp. Mục đó gồm các yếu tố sau: Điều kiện và cơ sở vật chất cho hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoại khoá của nhà trường, của lớp; phân phối lực lượng và định kỳ hạn cho từng kế hoạch,. Có thể nói tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước có nền giáo dục tiên tiến thì càng coi trọng các HĐGDNGLL. Giáo dục ngoại khóa là một phần của nền giáo dục toàn diện mà Singapore muốn đem đến cho các em học sinh, chính vì vậy mà các chính sách và sự sắp xếp các bậc học được mở rộng để giúp các em có nhiều lựa chọn hơn và ghi nhận sự tham gia của các em không chỉ trong các môn thể thao mà còn trong các hoạt động do các em tự khởi xướng và các hoạt động cộng đồng.
“Chúng ta phải giúp từng em học sinh tìm được thế mạnh của mình, chứ không phải tập trung vào khuyết điểm của các em, và giúp các em thể hiện tài năng của mình tốt nhất. Đó là nhiệm vụ của chúng ta ” (Tharman Shanmugaratnam, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Singapore) [22]. Các nghiên cứu ở Việt Nam Vấn đề giáo dục toàn diện cho học sinh được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đưa vào các mục tiêu đào tạo cho từng cấp học, bậc học. Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục, ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu xung quanh việc xác định khái niệm “HĐGDNGLL” và việc tổ chức hiệu quả HĐGDNGLL trong các trường phổ thông.
Chương trình GDNGLL hiện nay được chính thức đưa vào giảng dạy trong nhà trường cấp THPT từ năm học 2006-2007. Nhận thức rõ vai trò của HĐGDNGLL trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý và các biện pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả HĐGDNGLL. Các nghiên cứu này được thực hiện theo hai hướng nghiên cứu chính: Hướng thứ nhất: Những nghiên cứu cơ bản mang tính lý luận nhằm xác định nội hàm của khái niệm “HĐGDNGLL”, xác định mục tiêu, vai trò, vị trí, 20 z nội dung, phương pháp, hình thức thực hiện. Nghiên cứu theo hướng này có một số công trình nghiên cứu như: Từ năm 1979, Viện khoa học giáo dục đã thực hiện đề tài nghiên cứu về “Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và sự hình thành nhân cách của học sinh”do Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức cho học sinh chủ trì.
Đề tài được triển khai thực nghiệm tại một số trường phổ thông trên địa bàn Hà Nội, kết quả thực nghiệm đã được thể hiện trên tạp chí nghiên cứu giáo dục và tạp chí Thông tin khoa học giáo dục của một số nhà nghiên cứu như: Đặng Thúy Anh, Phạm Hoàng Gia, Lê Trung Trấn, Phạm Lăng… - Một số nghiên cứu thực nghiệm cải tiến nội dung, phương pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng HĐGDNGLL do một nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện khoa học giáo dục thực hiện như: Đặng Thúy Anh, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, Nguyễn Thanh Bình… - Một số nghiên cứu lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận về HĐGDNGLL của một số nhà khoa học như Nguyễn Đắc Lê, Hoàng Mạnh Phú, Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang, Hà Nhật Thăng… - Một số cuốn sách nói về HĐGDNGLL của một số tác giả như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Đăng Thìn, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ… Hướng thứ hai: Một số bài viết về kinh nghiệm thực tiễn tổ chức HĐGDNGLL ở các trường THPT mà tác giả là các GV, cán bộ quản lý tại các trường phổ thông. Nhìn chung, trong các nghiên cứu này đều nhấn mạnh vai trò của HĐGDNGLL đối với việc phát triển toàn diện cho học sinh nói chung, học sinh THPT nói riêng và nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác quản lý đối với HĐGDNGLL ở từng cấp và từng cơ sở giáo dục. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm rộng lớn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Những nhà xã hội học nghiên cứu hoạt động quản lý trên cơ sở mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, các nhà hoạt động kinh tế nghiên cứu hoạt động quản lý trên cơ sở hiệu quả kinh tế… Chính vì thế khi đưa ra khái niệm về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu hay thực tế công việc quản lý của mình. Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là người sáng lập ra thuyết quản lý theo khoa học, theo ông thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [9, tr.89] Henry Fayon (1845-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính lại cho rằng: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát” [6, tr. Harold Koontz, được coi là người tiên phong của lý luận quản lý hiện đại viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi cá thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất” [21, tr. Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đưa ra những quan điểm đặc sắc về quản lý: Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì Quản lý là “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[6, tr. Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu.