Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẦN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC: CHO HQC SINH TRUONG TIEU HOC 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài 'ĐĐ là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của loài người. Trong đời sống xa hội, bắt kì giai đoạn lịch sử nào cũng coi trọng vấn đề ĐĐ và GDĐĐ cho thế hệ trẻ, nhằm định hướng cho con người tới các chân - thiện - mỹ, chống lại cái ác, cái xấu, cái giả trong hành vĩ ứng xử giữa người với người, giữa người và thế giới xung quanh mà con người luôn đứng vị trí trung tâm.
Vì thế, GD con người nói chung, GDĐĐ con người nói riêng là một vấn đề thiết thực và quan trọng trong xã hội loài người thông qua nhà trường - gia đình - xã hội, góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho HS. Chính vì vậy, nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã được các nhà giáo và các nhà khoa học GD quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu ở nước ngoài Ở phương Đông. các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cỗ đại xuất hiện sớm, tiêu biểu là những lời dạy về ĐĐ của Không Tử - một triết gia và chính trị gia người Trung Quốc (SS1 - 479 TCN) - thật giản dị mà rất sâu sắc.
“Theo truyền thống, ông được xem là nhà hiền triết Trung Quốc mẫu mực nhất. "Những lời dạy và + lý của Không Tử đã hình thành nền tảng văn hóa Á Đông và ngày nay vẫn tiếp tục duy trì ảnh hưởng khắp Trung Quốc cũng như các quốc. gia Đông Á khác. Hệ thống giáo lý triết học của Khổng Tử, Nho giáo, nhắn mạnh yếu tố ĐĐ của mỗi cá nhân lẫn chính quyền, tính đúng đắn trong các mối quan hệ xã hội, sự công bằng, lòng nhân ái và tính chân thành.
Đối với người Trung Quốc, Nho. giáo là một phần lối sống và cơ cấu xã hội. Theo Nho giáo, mọi hành vi trong. cuộc sống thường nhật đều thuộc phạm trù tôn giáo.
Nho sinh theo học Không. Tử đã cạnh tranh thành công với nhiều trường phái triết học Bách gia chư tử nhưng rồi lại bị đàn áp bởi các Pháp gia thời nhà Tản. Sau khi nhà Hán thành lập, tư tưởng Nho giáo mới lại được chính quyển phê chuẩn. Dưới thời nhà Đường và nhà Tống, Nho giáo phát triển thành hệ thống Lý học, thường được.
người phương Tây gọi là Tân Nho giáo. Khéng Tử thường được ghỉ nhận là tác giả hoặc người biên tập của nhiều tải liệu Trung Quốc cổ điển, bao gồm toàn bộ Ngũ kinh. Tuy nhiên, giới học giả hiện đại rất thận trọng khi đưa ra khăng định về đóng góp của Khổng Tử. Cách ngôn của Không Tử được học trò chép lại trong Luận ngữ, nhưng đó là sau khi ông đã qua đời nhiều năm.
Bộ nguyên tắc mà Không Tử xây dựng có nhiều điểm tương đồng với truyền thống vả tín ngưỡng Trung Quốc. Với những nguyên tắc về lòng hiếu thảo, Không Tử để cao một gia đình trung hiếu, lòng tôn kính dành cho tổ tiên, sự tôn trọng mà con cái dành cho cha mẹ, vợ dành cho chồng, va tin rằng gia đình tốt đẹp là hạt nhân của một chính quyền lý tưởng. Nguyên tắc vàng mà Khổng Tử đề ra là "Đừng làm điều gi mà bạn không muốn người khác làm cho mình. Ở phương Tây, triết lí ĐĐ được phát triển ở các từ rất lâu, tiêu biểu là Sokrates (470 ~ 399 TCN) là một triết gia người Hy Lạp cỗ đại (Người Athens), ông được coi là một trong những người đã sáng tạo ra nền triết học phương Tây, và là nhà triết gia ĐĐ đầu tiên của nền tư tưởng ĐĐ phương Tây.
một sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đối với những triết gia sau thời kỳ cỗ đại và ky nguyên hiện đại. Những tác phẩm văn học, nghệ thuật và văn hóa đại chúng miêu tả về Sokrates đã khiến ông trở thành một trong những hình tượng. được biết đến rộng rãi nhất trong nền tư tưởng triết học phương Tây. rằng bản tính con người vốn thiện, nếu tỉnh thần ấy được lan tỏa thì con người sẽ có hạnh phúc.
Nhìn chung, các nước trên thế gi rất coi trọng việc GDĐĐ cho HS. Ở Hoa Kỳ, GDĐĐ cho HS được quan đặc biệt được thể hiện rõ ở Luật "Giáo dục cho mọi trẻ em” và Luật “GD cho trẻ em khuyết tật. tiêu GDĐĐ cho HS là nhằm thúc đây sự phát triển tỉnh thần, ĐĐ, văn hóa và thể chất của HS. Còn ở Nhật Bản, GDĐĐ cho HS là nhằm bồi dưỡng tỉnh thần, tôn trọng nhân cách con người, bồi dường giá trị chân ~ thiện - mỹ.
Do đó, GDĐĐ, là một phương tiện không thể thiếu đễ giúp mọi người hình thành và phát triển nhân cách. Từ đó cho thấy, vai trò của thẩy giáo, cô giáo là hết sức quan trọng. trong việc GDDD trong tat cả các cấp học, đặc biệt là cắp tiểu học. Những nghiên cứu trong mước Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh (ra đời 63 năm trước) đến nay vẫn còn nguyên giá tri, Hé Chi Minh khẳng định: “Có đạo đức.
cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rẻ, lùi bước, Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cắp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tắt cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thi sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của ĐĐ cách mạng”; “Thanh niên ta cần phải thấm. nhuằn tỉnh thần làm chủ nước nhà và phải trau dồi đạo đức của người cách mạng”; và "các cháu cần phải rèn luyện đạo đức cách mang dé chuẩn bị trở nên người công dân tốt, người cán bộ tốt của nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
Khi nói về thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước, Hồ Chí Minh cho *Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung. phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục. đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên”, đồng thời, Người còn cho rằng, thanh.
niên phải tiếp cận những tri thức mới, hiểu những vấn để thuộc về trách nhiệm của mình trước đắt nước, xác định được mục đích, động cơ học tập, sẽ xây dung 10 quyết tâm trong học tập. Tại Buổi lễ khai mạc Trường Đại học nhân dân Việt Nam (1955), Hồ Chí Minh đã nói "Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Minh phải làm. thé nao cho ich lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phần đầu chừng nào?” Trong Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta chỉ rõ việc đổi mới nội dung, phương thức GD chính trị, tư tưởng, lý tưởng, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, xây dựng ĐĐ, lối sống lành mạnh, ý thức tôn trọng và nghiêm chinh chấp hành Hiến pháp và pháp luật cho thế hệ trẻ.
Có cơ chế, chính sách phủ hợp tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho thế hệ trẻ học. tập, nghiên cứu, lao động, giải trí, phát triển trí tuệ, kỹ năng, thể lực. khích, cỗ vũ thanh niên nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, xung kích, sáng tạo, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại. Phát huy vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dung và bảo vệ Tổ quốc.
Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhỉ đồng vào các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và phụ trách. 'Bên cạnh đó, với truyền thống ĐĐ dân tộc là mạch chủ đạo, chỉ phối suy nghĩ, hành vi ứng xử, đạo lí làm người của người Việt Nam. Nó trở thành chuẩn mực để xác định thiện - ác, phải - trái, tốt - xấu, chỉ phối lương tâm, hạnh phúc, nghĩa vụ của con người. Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, các giá trị quốc hồn quốc túy luôn được duy trì và phát triển, trong đó có các giá trị ĐĐ hình thành.
triết lý sống của dân tộc Việt. Nhiều câu ca dao tục ngữ ca ngợi truyền thống yêu thương con người: Bầu ơi, thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Hay: *“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” " Cũng như phương châm GD trong nho giáo luôn đề cao GDĐĐ trong, “Tiên học lễ, hậu học văn”. Từ triều đại phong kiến, các giá trị ĐĐ truyền thống.
tốt đẹp của dân tộc đã được lưu vào sử sách, trở thành những nội dung GD trong các trường học thời bấy giờ. Bên cạnh những tác phẩm kinh điển của Khổng giáo, Tư thư ~ Ngũ kinh, đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở nước ta có nhiều sách dạy về lý luận, dạy làm người, dạy giao tiếp của các tác gi: Trương Vĩnh Kí, Tản Đà, Lê Văn Siêu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Các tác phẩm được dùng làm sách giáo khoa, sách dùng cho người dạy, sách đọc ở nhà. Nội dung nhấn mạnh vào các đức tính của con người: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm” là những đức tính cần phải được.
môi người trau đồi, học tập, nhất là thế hệ thanh thiếu niên. Ngoài ra, vấn đề ĐĐ được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu tiêu biều như Phạm K. Chương Nguyễn T. Phương, Trần Ð.
Thọ đã trình bày một số phạm trù cơ bản của ĐĐ học; nguồn gốc, bản chất, chức năng của. DD; các kiểu ĐĐ trong lịch sử; vấn đề GDĐĐ, mục tiêu, nội dung, các hình thức GDĐĐ, học tập ĐĐ Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, Phạm M. Hạc với mong muốn lớn nÌ của ông.
với sự nghiệp GD nước nhà là phát triển con người. Nhiệm vụ của nhà trường là đạy chữ, dạy người. Nhưng, trên thực tế, chúng ta mới chú trọng dạy chữ thôi, vẫn rất thiếu về việc dạy nghề, dạy người. GD toàn diện tạo ra giá trị của con người, đồng góp và giá trị chung xã hội.