Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy nghề tai Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội cấp tỉnh. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề cho học viên tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn. Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề cho học viên tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn c Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TẠI TRUNG TÂM CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI CẤP TỈNH 1.
Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong thời đại hiện nay, các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc coi giáo dục là nhân tố quan trọng, có tính chất quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội và hƣng thịnh của mình, luôn đề cao công tác đào tạo nghề, có sự định hƣớng ngay từ khi học sinh còn đang học phổ thông. Nhƣ ở Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đức, Nga .đã có những công cụ tâm lý để kiểm tra và phân hóa năng lực, hứng thú nhằm giúp trẻ phát triển đúng hƣớng. Ở Trung Quốc hay Thái Lan hoặc Inđônêxia cũng có những mục tiêu khác nhau nhằm phát triển giáo dục đào tạo nghề.
Ở Mỹ, đào tạo công nhân kỹ thuật đƣợc chú trọng và tiến hành ngay từ cấp THPT phân ban vào các trƣờng dạy nghề cấp trung học, các cơ sở dạy nghề sau THPT. Học sinh tốt nghiệp đƣợc cấp bằng chứng nhận, chứng chỉ công nhân lành nghề và đƣợc quyền đi học tiếp. Ở các công ty tƣ nhân lớn thƣờng thành lập các trƣờng đào tạo nghề ngay trong công ty mình để đào tạo công nhân cho mình và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng. Ở Pháp, vào giữa thế kỷ XIX, xuất hiện nhiều cuốn sách mang nội dung đề cập đến vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp.
Ngay khi đó, ngƣời ta đã nhận thấy rằng hệ thống nghề nghiệp đã rất phức tạp, sự chuyên môn hóa vƣợt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Trên cơ sở đó, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hƣớng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và xã hội. Ở Đức, nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy nghề đã nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề nghiệp. Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ về nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức đào tạo nghề nghiệp, tạo điều kiện cho ngƣời học phát triển thành những con ngƣời trƣởng thành trong cuộc sống lao động - xã hội.
Quán triệt quan điểm “Ba trong một” (Đào tạo, sản xuất, dịch vụ) trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay, theo đó các trƣờng dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn c với các cơ sở sản xuất và dịch vụ, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề. Ở Inđônexia, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho thị trƣờng thƣơng mại tự do ASEAN năm 2003, APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề từ năm 1993 đã đƣợc nghiên cứu phát triển mạnh. Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trƣờng với doanh nghiệp sản xuất đƣợc quan tâm đặc biệt. Ở Thái Lan, để có nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các doanh nghiệp sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo nghề ngay tại xƣởng sản xuất của mình.
Năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” (Cosperative training system) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề, sử dụng lao động và hƣớng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tƣơng lai. Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục”. Theo ông, vấn đề học nghề của học sinh là không thể thiếu trong những trụ cột của giáo dục. Ở các nƣớc XHCN, nhất là Liên Xô trƣớc đây cũng sớm quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề, những đóng góp quan trọng của các nhà giáo dục học, tâm lý học nhƣ X.IA Batusep, AE Klimov, T.V Cudrisep… dƣới góc độ giáo dục học nghề nghiệp, tâm lý lao động, tâm lý học kỹ sƣ, tâm lý học xã hội.
Tuy nhiên, theo nhận xét của T.V Cudrisep, những nghiên cứu trong lĩnh vực dạy học và giáo dục nghề vào những năm 70 của thế kỷ XX còn mang tính từng mặt, một chiều nên chƣa giải quyết đƣợc một cách triệt để vấn đề chuẩn bị cho thế hệ trẻ bƣớc vào cuộc sống và lao động. Quá trình hình thành nghề lúc đó đƣợc chia làm 4 giai đoạn tách rời nhau, đó là: Giai đoạn dự định nảy sinh dự định nghề và bƣớc vào học các trƣờng nghề; giai đoạn học sinh lĩnh hội có tính chất tái tạo những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; giai đoạn thích ứng nghề và cuối cùng là giai đoạn hiện thực hóa từng phần hoạt động nghề. Quan điểm trên theo T.V Cudrisep đã tạo ra những khó khăn rất lớn trong quá trình học và dạy nghề, quá trình đào tạo nghề trở nên áp đặt và không thấy đƣợc mối quan hệ giữa các giai đoạn hình thành nghề. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm đào tạo nghề của các nƣớc trên thế giới và vận dụng vào thực tiễn đào tạo nghề ở nƣớc ta là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đủ sức đối đầu với sự cạnh tranh và hợp tác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www. Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt nam, những vấn đề về đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề cũng đƣợc quan tâm ngay từ những năm 70 của thế kỷ trƣớc. Lúc đó, một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tâm lý học lao động nhƣ Đặng Danh Ánh, Nguyễn Ngọc Đƣờng, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dƣơng…,đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề. Những năm gần đây, các nhà khoa học, giáo dục đã tiếp cận nhiều vấn đề đào tạo nghề ở các khía cạnh khác nhau nhƣ: Tác giả Phạm Minh Hạc, sau khi phân tích tình hình và phƣơng hƣớng đổi mới giáo dục - đào tạo đã xác định: Việc xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là “Nền giáo dục đƣợc chỉ đạo bằng tƣ tƣởng phục vụ phát triển công nghệ”.
Kết quả nghiên cứu của tác giả về con ngƣời trong cuộc sống đổi mới “Con ngƣời là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, là thƣớc đo của mọi bậc thang giá trị. Mỗi thời đại mới đều đƣợc chuẩn bị tập trung vào vấn đề con ngƣời, chủ thể của lịch sử, chủ thể của mọi quá trình biến đổi xã hội. Tác giả Nguyễn Văn Lê, trong chƣơng trình khoa học công nghệ cấp Nhà nƣớc đề tài đề cập đến nền tảng phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH đất nƣớc, cho rằng: Nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH đất nƣớc là vấn đề có ý nghĩa chiến lƣợc [10]. Tác giả Phạm Tất Dong, trong công trình khoa học của mình đã nêu ra số liệu điều tra: Trong những ngƣời không kiếm ra việc làm, có 85,5% là thanh niên trong tổng số thanh niên đứng ngoài việc làm, có 67,4% là không biết nghề.
Trên cơ sở đó, tác giả xác định: Cần chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để họ tự tìm ra việc làm, đồng thời tiếp sau quá trình hƣớng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh…đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản [1]. Ngoài ra có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, bài báo liên quan hoặc đề cập đến công tác quản lý đào tạo nghề, nhƣ sau: - Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ nghiên cứu đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của hình thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại nhà trƣờng và tại cơ sở sản xuất” [40]. - Năm 2005, tác giả Hoàng Ngọc Trí nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô Hà Nội”. Trong công trình này tác giả đã đề xuất đƣợc một số giải pháp nâng cao chất lƣợng công nhân kỹ thuật xây dựng [34].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn c - Năm 2006, tác giả Nguyễn Văn Tuấn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở trường đại học Công nghiệp Hà Nội”. Trong công tác này tác giả phân tích mối quan hệ giữa quản lý với chất lƣợng đào tạo nghề [37]. Ngoài ra, còn có một số đề tài khoa học nghiên cứu về hoạt động dạy nghề tại các trƣờng học nhƣ sau: Đề tài: “Tìm hiểu tình hình đội ngũ làm công tác quản lý trƣờng lớp dạy nghề công và bán công, thiết kế chƣơng trình và phƣơng thức bồi dƣỡng về quản lý cho đội ngũ này tại Thành Phố Hồ Chí Minh” (2003). Chủ nhiệm đề tài: Tạ Văn Doanh.
Đề tài cho thấy cán bộ quản lý là yếu tố có tính quyết định của công tác quản lý dạy nghề. Nếu đào tạo bồi dƣỡng đội ngũ này tốt thì hoạt động của hệ thống sẽ hiệu quả hơn. Đề tài chỉ rõ đội ngũ quản lý chƣa có đƣợc tiêu chuẩn và trình độ theo yêu cầu của Sở Giáo dục- Đào tạo.do đó hiệu quả hoạt động đào tạo nghề chƣa cao, điều này lý giải một phần về sự thiếu hụt đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhất là ở các nghề mũi nhọn tại Thành phố. Đề tài: “Nghiên cứu xây dựng chƣơng trình dạy nghề ở trƣờng phổ thông của Thành Phố Hồ Chí Minh”(2003).
Chủ nhiệm đề tài Chu Xuân Thành. Tác giả nhấn mạnh sự cấp thiết phải tổ chức giáo dục lao động, kỹ thuật tổng hợp, hƣớng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phù hợp với tình hình phát triển của thành phố.