phần mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của Quản lý dạy nghề cho lao động dân tộc thiểu số ở Trung tâm Dạy nghề. Chƣơng 2: Thực trạng công tác Quản lý dạy nghề cho lao động dân tộc thiểu số ở Trung tâm Dạy nghề huyện Định Hóa. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dạy nghề ở Trung tâm Dạy nghề huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. 5 c Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRUNG TÂM DẠY NGHỀ 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề và các Khái niệm cơ bản 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trên thế giới, cùng với lịch sử phát triển của giáo dục nghề nghiệp qua các thời kỳ, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo nghề, dạy nghề thông qua mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức, quản lý giáo dục nghề nghiệp. Ở Liên bang Xô Viết trƣớc đây, các tác giả Batusep, Xla Sapôrinxki Y.A và nhiều tác giả khác đã xây dựng những cơ sở lý luận xác đáng trong việc xây dựng nội dung, phƣơng pháp và hình thức giáo dục nghề nghiệp.
Ở Đức, các tác giả nhƣ D.Germer, Heinz Frakiewicz đã đƣa ra những cơ sở sƣ phạm đối với việc tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề nghiệp. Các tác giả đã rất quan tâm tới sự phối hợp chặt chẽ giữa dạy lý luận và luyện tập kỹ năng, kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất. Các hệ thống dạy nghề và nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp xuất hiện ở nhiều quốc gia khác nhƣ Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Phần Lan,… trong đó đều đề cập tới quản lý đối với các thành phần cơ bản tạo nên quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục. Trong cuốn Giáo dục kỹ thuật và đào tạo thế kỷ XXI: Các khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế và tổ chức giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc, John Daniel và Goran Hultin đã đề cập tới mối quan hệ gắn bó giữa mục tiêu phát triển đào tạo nghề với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; giữa đào tạo với sự biến động của thị trƣờng lao động; sự cần thiết phải thiết lập một cơ cấu giáo dục mở và linh hoạt.
Các tác giả đã khẳng định rằng, trong nền kinh tế thị trƣờng, hoạt động quản lý liên quan tới thiết kế chính sách về đào tạo nghề cần lƣu tâm tới mối quan hệ hợp tác giữa nhà nƣớc, ngƣời sử dụng lao động và nhà sản xuất. Do đặc điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nƣớc có khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực đào tạo nghề, dạy nghề mà 6 c cả phƣơng pháp dạy nghề, hình thức dạy nghề, quy mô dạy nghề cũng có sự khác nhau, song đều có điểm chung là đều trú trọng đến phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp. Do sớm có hệ thống đào tạo nghề nên các nƣớc tƣ bản đã tích lũy đƣợc nhiều kinh nghiệm trong quá trình đào tạo. Quá trình đào tạo nghề, dạy nghề cũng nhƣ quá trình quản lý đào tạo nghề, dạy nghề liên tục đƣợc hoàn thiện, đổi mới để đảm bảo chất lƣợng đào tạo, chất lƣợng dạy nghề, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Cho đến ngày nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật nghề bên cạnh bậc phổ thông và đào tạo bậc cao đẳng, đại học. Đối với dạy nghề hay giáo dục nghề nghiệp, trên thế giới ở mỗi quốc gia có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ công nghệ khác nhau thì hệ thống giáo dục dạy nghề cũng khác nhau, song hầu hết các nƣớc đều bố trí hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề bên cạnh hệ phổ thông và trung học. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, đào tạo nghề, dạy nghề nói chung và quản lý hoạt động đào tạo nghề, dạy nghề nói riêng là vấn đề đƣợc các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trong đó có thể kể tới một số công trình sau: Tác giả Phạm Văn Kha trong cuốn “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” [15] đã phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong điều kiện Việt Nam hiện nay cả về mặt lý luận và thực tiễn với những giải pháp tăng cƣờng sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố quản lý đào tạo nghề, dạy nghề của cả hệ thống và của từng cơ sở.
Tác giả Đỗ Minh Cƣơng và Mạc Văn Tiến (đồng chủ biên) với công trình “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lỹ luận và thực tiễn” [4] đã thiết lập cơ sở lý luận, phân tích thực trạng về phát triển lao động kỹ thuật, đề xuất một số giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm 2010, 7 c trong đó đƣa ra giải pháp nội dung, chƣơng trình và quản lý tổ chức quá trình đào tạo nhằm đạt tới sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng. Tác giả Vũ Ngọc Hải trong bài viết “Cung - Cầu giáo dục” đã đề cập tới những thay đổi trong quan hệ cung - cầu và những bất cập trong đào tạo nhân lực với những biểu hiện nhƣ: sự không tƣơng thích giữa đào tạo với phát triển kinh tế - xã hội; ngành, nghề đào tạo chƣa gắn với thị trƣờng lao động; trình độ đào tạo không phù hợp với đòi hỏi của việc làm,… Từ đó, ông đã đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa mối quan hệ giữa đào tạo và thị trƣờng lao động. Luận án tiến sỹ của Phan Chính Thức với đề tài: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa” [27] đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của đào tạo nghề, đề xuất một số giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội. Qua phân tích một số đặc trƣng của một số nƣớc về hệ thống giáo dục nghề nghiệp, ta thấy hệ thống giáo dục nghề nghiệp đƣợc hình thành do yêu cầu của thị trƣờng lao động và do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của ngƣời lao động trong xã hội.
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trƣờng lao động những kỹ thuật viên, trung cấp, công nhân kỹ thuật, ngƣời lao động có trình độ, có tay nghề, có năng lực ở mọi phƣơng diện kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm làm việc đƣợc đào tạo trong các cơ sở giáo dục. Hình thức đào tạo nghề rất phong phú và đa dạng: đào tạo dài hạn và ngắn hạn; đào tạo chính quy và không chính quy; đào tạo tại các trƣờng hay các Trung tâm Dạy nghề. Đặc trƣng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là đào tạo ngƣời lao động có kỹ năng, kỹ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết. Do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo nghề, dạy nghề.
Sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lƣợng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trƣờng lao động. Đây 8 c cũng là cơ sở để thị trƣờng lao động có thể thực hiện đƣợc các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam đã đƣợc hình thành trên 50 năm, thể chế hóa nội dung này vào luật, Điều 32, Luật Giáo dục năm 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung cấp chuyên nghiệp đƣợc thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với ngƣời tốt nghiệp Trung học cơ sở; từ 1 đến 2 năm đối với ngƣời tốt nghiệp Trung học phổ thông và dạy nghề dƣới 1 năm đối với sơ cấp và từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp và cao đẳng nghề. Vấn đề đào tạo nghề, quản lý quá trình đào tạo nghề cũng đƣợc quan tâm ngay từ nhƣng năm 1970, khi đó còn Tổng cục Dạy nghề.
Khi đó một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tâm lý học lao động nhƣ: Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Ngọc Đƣờng, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Bá Dƣơng,. đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề. Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu nhƣ Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Kiểm đã đi sâu nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng. Tuy nhiên, sau đó những nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng, quản lý quá trình đào tạo nghề ở nƣớc ta bị lắng xuống, ít đƣợc trú trọng, chỉ đến khi vấn đề đào tạo nghề đƣợc quan tâm trở lại thông qua những đề tài, luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
Những nghiên cứu này đã đóng góp nhiều vấn đề quan trọng, đã khái quát hóa và làm rõ đƣợc những vấn đề về lý luận và đề xuất những biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả quản lý quá trình đào tạo nghề nói chung và hoạt động dạy nghề nói riêng. Khái niệm dạy nghề a. Nghề Từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công của xã hội”. Khái niệm nghề của Nga đƣợc định nghĩa: “là một hoạt động lao động đòi hỏi có đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc 9 c của sự sống”.
Khái niệm nghề của Pháp đƣợc định nghĩa: “là một loại lao động có thói quen và kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống” [30]. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp nhƣ một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công của xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó, con ngƣời với tƣ cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân. Bất cứ một nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: Tri thức nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại. Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con ngƣời phải có một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức, chuyên môn nhất định.