Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học trường Trung học cơ sở theo Chương trình giáo dục phổ thông mới. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá theo Chương trình giáo dục phổ thông mới. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học cơ sở huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá theo Chương trình giáo dục phổ thông mới. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC SƠ SỞ THEO CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có những mô hình giáo dục đặc trưng và trong phát triển giáo dục luôn có sự đổi mới giáo dục. Dưới đây là một số thành tựu nghiên cứu khoa học về vấn đề này: * Những công trình bàn về Quản lí trong giáo dục: Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền GD theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học. Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức.
Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn. Ông còn viết: “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn,phát triển nhân cách Hãy tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học được nhiều hơn [20]. Trong thế kỷ XX, John Dewey (1859 – 1952) là một trong những nhà triết học lớn nhất nước M nửa đầu thế kỉ XX, đồng thời là nhà tâm lý học, nhà giáo dục vĩ đại, đã có đóng góp lớn lao vào công cuộc cải cách giáo dục của nhân loại. Tư tưởng giáo dục của J.Dewey cho rằng: Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ con các bài học kiến thức và bài học luân lý.
Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội. Do đó, giáo dục là một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đấy [21]. Tóm lại là người học có thể phát triển toàn v n mọi khả năng của mình để tham gia vào đời sống xã hội. Nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua “ kinh nghiệm” và “ tư duy”, thông qua “ trải nghiệm” của chính bản thân [21].
Học 7 sinh là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục. Học sinh phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường. Giáo viên đóng vai trò là tác nhân quan trọng bậc nhất cho sự khai phóng của người học. Giáo viên không phải là một “quyền uy ban phát kiến thức, không phải là một vị quan tòa mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học.
Giáo viên có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích. Bằng việc cung cấp vật liệu, đầu mối thông tin, gợi ý, tổ chức, hướng dẫn giáo viên có thể tạo ra một môi trường khuyến khích sự học tập. Muốn vậy, giáo viên phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện. Nội dung của giáo dục phải phản ánh sự phát triển của loài người.
Nội dung phải mang tính tăng tiến. Chương trình học phải hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người. Phương pháp dạy học phải gắn chặt với đối tượng và nội dung. Phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn- những kẻ đã trưởng thành.
Phương pháp là sự trình bày rõ ràng biện pháp triển khai nội dung của một kinh nghiệm đang diễn ra để nó đem lại hiệu quả và kết quả nhiều nhất. Bởi vậy, không thể tách rời phương pháp khỏi nội dung [21]. Khi nói về PPDH, cần nhấn mạnh đó là vấn đề được các nhà khoa học giáo dục trên toàn thế giới quan tâm. Đó là các công trình nghiên cứu sâu sắc liên quan đến PPDH gắn với các tên tuổi của Piagiet, Lêônchiep, Đannhilốp, xipôp, Lecne, Babansky.Gần đây, một số nhà lý luận dạy học phương Tây như: Grôp- frây đi sâu vào các kĩ thuật dạy học cụ thể.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Cũng như hầu hết các nước trên thế giới, ở Việt Nam, các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy). Nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Chí, và một số các nhà giáo giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam: Văn Như Cương, Tôn Thân. Về quản lý đổi mới PPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc, Trần Kiểm, Trần Kiều, Trần Bá Hoành,. luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người 8 học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập.
Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết TW 4 khoá VIII về GD-ĐT. Nghị quyết yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPGD, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học [1]. Nội dung này đã được thể hiện thành quy định pháp luật tại Luật giáo dục, trong đó có yêu cầu cơ bản là: (1) Nội dung GD phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; (2) PPGD phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện k năng vân dụng kiến thức vào thực tiễn. Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Đối với quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Tài liệu “Cơ sở của khoa học quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Minh Đạo; tài liệu “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; tài liệu “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình của tác giả Đặng Quốc Bảo là những tài liệu mà trong đó trình bày về khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục được tiếp cận từ những mô hình, trong đó có đề cập đến dạy học theo định hướng phát triển năng lực [2] Các tác giả như: Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt cũng có các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạy học theo hướng phát huy năng lực người học. Một số nghiên cứu trong các luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục, Thạc sĩ giáo dục học cũng đã đề cập đến công tác quản lý chuyên môn, quản lý hoạt động dạy học trong các nhà trường phổ thông, các địa phương cụ thể. Những đề tài này đã nêu ra được cơ sở lý luận của việc quản lý chuyên môn và đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở một số cơ sở giáo dục áp dụng cho cơ sở đó và những kinh nghiệm quý báu. Tóm lại: Nhìn chung các công trình nghiên cứu trước đây đã đạt được những kết quả nhất định trong việc nghiên cứu nội dung, phương pháp, tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động dạy học của giáo viên nói chung, quản lý hoạt động dạy học của giáo viên theo Chương trình giáo dục phổ thông mới.
Tuy nhiên hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu tại các trường THCS huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, trong luận văn này, tác giả sẽ đi sâu nghiên 9 cứu thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Yên Định. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển lý luận quản lý, khái niệm quản lý đã được các nhà nghiên cứu đưa ra khác nhau, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau: - Tác giả Hồ Văn Vĩnh viết: “Theo Frederic Wiliam Taylor (1856-1915) quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất; hoặc theo A.
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [27]. - Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý, một số vấn đề lý luận và thực tiễn , tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể. Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bố nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt được mục đích.
Hoạt động dạy học Các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người [26].