Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường Tiểu học. Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường Tiểu học thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường Tiểu học thành phố Pleiku tỉnh Gia Lai trong giai đoạn hiện nay.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Sơ lược tổng quan vấn đề nghiên cứu Đã có một số nghiên cứu cụ thể về quản lý dạy học tại trường tiểu học được thực hiện, có thể nêu dẫn cụ thể một số nghiên cứu sau: Phạm Văn Khanh (2015), với nghiên cứu có tựa đề “Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong mối quan hệ với phát triển nhân cách” đã cho rằng: dạy học phát triển phẩm chất năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh. Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có phẩm chất năng lực giảng dạy cao hơn trước đây. Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người [11].
Phạm Đỗ Nhật Tiến (2015) trong bài viết “Bài toán đổi mới đánh giá người học trong giáo dục đã trình bày một nội dung, vấn đề của dạy học và giáo dục theo hướng phát triển năng lực”. Bài viết đã trình bày các vấn đề: cụ thể hóa các năng lực để đánh giá, các nguyên tắc đánh giá (đánh giá phải chính đáng, tin cậy và có căn cứ, lấy người học làm trung tâm), phương pháp đánh giá (đánh giá tổng kết, đánh giá định hình,.) từ đó đưa ra các Khuyến nghị cụ thể để đổi mới đánh giá [9].A Cômenxki (1592 - 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường cũng đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học của người giáo viên. Ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên. Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ điều gì.
Ông cũng đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị lớn như: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh; Dạy học phải thiết thực; Dạy học theo nguyên tắc cá biệt…[23]. Các nghiên cứu về dạy học môn tiếng Việt ở trường tiểu học cũng đã được nghiên cứu khá nhiều, trong đó gồm có các công trình nghiên cứu như: Tác giả Vũ Thị Thương, Ngạc Thị Thu Giang (2019), trong bài viết: “Nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Việt ở tiểu học thông qua hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học” đã 6 cho rằng, tiểu học là cấp học nền tảng cho việc hình thành, phát triển nhân cách con người, phân môn Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cấp thiết nhất. Tuy nhiên, chương trình sách giáo khoa hiện nay đang là chương trình năm 2000, dạy học theo hướng chú trọng nội dung: giáo viên là người truyền đạt tri thức và học sinh tiếp thu thụ động những tri thức đó. Vì thế, khi học tiếng Việt, hầu như các em chưa thực sự hứng thú với môn học, kiến thức tích lũy được khó khắc sâu.
Sân khấu hóa là một hình thức tổ chức dạy học mới, là sân chơi để học sinh có cơ hội trau dồi, phát triển các kĩ năng như hát, múa, kể chuyện, diễn kịch., giúp các em thêm sự tự tin và bộc lộ trí tưởng tượng, tư duy sáng tạo; khơi dậy tình yêu tiếng Việt, yêu văn học [17]. Các tác giả Trần Thị Tú Anh, Trịnh Thị Thúy (2017), đã công bố bài viết trên tạp chí với tựa đề: “Phát triển năng lực cảm xúc – xã hội cho học sinh lớp 3 thông qua dạy học môn tiếng Việt”. Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng việc phát triển năng lực cảm xúc – xã hội cho học sinh lớp 3 của 30 giáo viên tại hai trường tiểu học trên địa bàn Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số giáo viên tiểu học ít thấy cấp thiết và cũng chưa thực sự phát triển năng lực cảm xúc – xã hội cho học sinh tiểu học.
Tuy nhiên, họ cũng cho biết có thể phát triển năng lực này thông qua dạy học môn Tiếng Việt. Bài báo khuyến nghị cần quan tâm bồi dưỡng năng lực cảm xúc — xã hội cho giáo viên tiểu học và khuyến khích họ tăng cường phát triển năng lực này cho học sinh thông qua dạy học môn Tiếng Việt bởi tính phù hợp của nội dung và phương pháp dạy học [15]. Tác giả Đào Xuân Đức (2020) thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài: “Đảm bảo chất lượng dạy học ở các trường tiểu học thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh đối mới giáo dục”. Nghiên cứu đã hệ thống hóa khung lí luận, khảo sát thực tiễn và đưa ra các biện pháp quản lý đảm bảo chất lượng dạy học trong các trường tiểu học: 1) tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng; 2) tổ chức khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị học liệu phục vụ dạy học theo yêu cầu đảm bảo chất lượng; 3) tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng; 4) tổ chức đánh giá và sử dụng kết quả tự đánh giá nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng dạy học; 5) tổ chức xây dựng và tuyên truyền giá trị cốt lõi, mục tiêu và kế hoạch phát triển của nhà trường [2].
Tác giả Hoàng Minh Việt (2013) đã thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”, từ kết quả nghiên cứu lí luận và thực trạng luận văn đã đưa ra 6 biện pháp quản lý dạy học trong các trường tiểu học: 1) bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho hiệu trưởng về đổi mới quản lý hoạt động dạy học trong các trường tiểu học; 2) tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ và năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường; 3) tăng cường chỉ đạo xây dựng nề nếp dạy và học; 4) tổ chức chỉ đạo nâng cao chất lượng giảng dạy trên 7 lớp của giáo viên; 5) tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học, phương tiện kĩ thuật hỗ trợ cho hoạt động dạy học; 6) đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động chuyên môn của giáo viên trong giáo dục [3]. Tác giả Nguyễn Thị Kim Loan (2020) đã thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực” với mục tiêu nghiên cứu của đề tài là lý luận và thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Hoàn Kiếm, Hà Nội theo tiếp cận năng lực, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học theo tiếp cận năng lực góp phần nâng cao chất lượng dạy học cấp tiểu học quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Tóm lại, qua các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy các luận văn đã nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề quản lý, quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý, tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học với hướng phân tích nội dung. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quản lý giáo dục Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về quản lý dưới góc độ khoa học khác nhau như Triết học, xã hội học, tâm lý học, kinh tế học, giáo dục học,. dưới đây là một số khái niệm cụ thể: Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. (chú dẫn theo tài liệu tham khảo số thứ tự 3) Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”. (chú dẫn theo tài liệu tham khảo số thứ tự 14) Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
(chú dẫn theo tài liệu tham khảo số thứ tự 2) Từ việc phân tích các khái niệm nêu trên, luận văn này xác định khái niệm quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra. 8 Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn. quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.