Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học ở trường THCS - Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo hướng phát triển năng lực người học. - Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo hướng phát triển năng lực người học. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới Những nghiên cứu về dạy học theo ĐHPTNL xuất hiện rất sớm trong lịch sử giáo dục, ngay từ thời cổ đại với những tên tuổi các triết gia như Socrate, Aristote, Platon, Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử. Tiếp đến thời kì Trung cổ Châu Âu, nhiều nhà khoa học cũng xem xét vấn đề dạy học theo ĐHNL (Decarter, Diterverg, Pestalotsy, Comensky, J. Ngày nay, dạy học theo ĐHPTNL trong giáo dục là vấn đề khoa học có phạm vi rất rộng lớn và tiêu biểu cho tư tưởng giáo dục hiện đại. Nó được các nhà khoa học trên thế giới thảo luận trên nhiều phương diện khác nhau.
Cụ thể như sau: Những năm 1970, dạy học dựa vào phong cách học tập (Learning Style- based Teaching) - là một hướng nghiên cứu tương đối mới nổi lên. Bởi lẽ phong cách học tập tích hợp cả khí chất, nét tính cách, tình cảm và năng lực nên dạy học theo phong cách học tập cũng là một chiến lược dạy học phân hóa theo tiếp cận năng lực. Thí dụ phổ biến nhất hiện nay là các chiến lược dạy học dựa vào lí thuyết đa trí tuệ. Kerka cho rằng dạy học theo định huớng năng lực có những ưu thế nổi bật so với cách dạy học truyền thống.
Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của những năng lực cần thiết để tạo ra các kết quả là điểm được các nhà hoạch định chính sách GD&ĐT và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm nhấn mạnh (dẫn theo [19]). Boyatzid cho rằng dạy học theo định huớng năng lực cho học sinh, cần dựa trên ba khía cạnh sau: (1) xác định các năng lực, (2) phát triển chúng, và (3) đánh giá chúng một cách khách quan (dẫn theo [25]). Để 6 xác định được các năng lực, điểm bắt đầu thường là các kết quả đầu ra (outputs). Từ đó, đi đến xác định vai trò của những người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này.
Một vai trò là một tập hợp các hành vi được mong đợi về một người theo những nghĩa vụ và địa vị công việc của người đó. Thuật ngữ “vai trò công việc” đề cập tới việc thực hiện những nhiệm vụ thực sự của một người. Trên cơ sở của từng vai trò, xác định các NL cần thiết để có thể thực hiện tốt vai trò đó. Năm 2013, các tác giả Xavier Roegirs, L.
W, John Dewey và J. Piaget đã đề cập đến giáo dục dựa vào năng lực (Competencybased Education) hay Đào tạo dựa vào năng lực (Competency- based Training) hoặc Học tập dựa vào năng lực (Competency-based Learning) - bản chất tiếp cận này là cụ thể hóa triết lí dạy học hướng vào người học, trước hết là năng lực của họ. Hướng vào người học là tư tưởng hiện đại mà nền tảng triết học đã được xác lập có 2 khía cạnh: tận dụng năng lực có sẵn và phát triển năng lực mới của người học trong quá trình dạy học (dẫn theo [25]). Nghiên cứu những khía cạnh tương đối cụ thể trong GD như đánh giá dạy học, phát triển chương trình, lập kế hoạch, giám sát, phát triển GV và nhà quản lí giáo dục, phát triển học liệu, thiết kế dạy học, … theo ĐHPTNL.
Đặc biệt có ý nghĩa là những nghiên cứu và khuyến cáo do UNESCO, UNDP, WB và ADB về phát triển chương trình trong giáo dục người lớn, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, quản lí trường học, đánh giá và giám sát dựa vào kết quả, quản lí dự án giáo dục, … 1. Ở Việt Nam Các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác- LeeNin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng sự tổng hòa các tri thức quản lý giáo dục, giáo dục học, Tâm lý học, Xã hội học, Kinh tế học…, tiếp thu lý luận giáo dục và dạy học hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên cứu một cách khoa học. Trong nước, nhiều 7 nhà khoa học, nhà giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học: Tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành khi nghiên cứu về “Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên” đã khẳng định: “Tùy theo các bậc học, trong từng nội dung hoạt động chuyên môn của giáo viên có thể có những yêu cầu biện pháp khác nhau nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” [12, tr 56]. Tác giả Trần Kiểm trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học Giáo dục học đã xác định: “Quản lý hoạt động dạy học là quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh.
Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ”[14]. Các cách tiếp cận hiện đại vận dụng vào QLGD như tiếp cận: “Quản lí chất lượng tổng thể trong giáo dục”; Quản lý dựa vào nhà trường;. cũng đã được các nhà khoa học nghiên cứu và vận dụng. Các thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước là những tri thức làm tiền đề cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học trong các trường học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Nghiên cứu về tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực Năm 2014, các tác giả Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Sĩ Thu [9], tổ chức dạy học theo hướng phát triển NL là giúp người học thấu hiểu “Học để làm gì - Học cái gì” để có NL đích thực; đồng thời bồi dưỡng cho người học cách “Học hiệu quả” để có NL bền vững. Bên cạnh đấy, các tác giả còn chỉ ra những NL tư duy nền tảng cần trang bị cho người học trong quá trình dạy học, đó là: Tư duy nguyên tắc (thông thạo một lĩnh vực chính và ít nhất một lĩnh vực chuyên môn); Tư duy tổng hợp (biết hợp nhất các ý kiến chuyên môn khác nhau 8 thành một tổng thể, gắn tổng thể này với tổng thể khác); Tư duy sáng tạo (biết khám phá và làm rõ những vấn đề, những đòi hỏi của thực tiễn); Tư duy tôn trọng (nhận biết và thấu hiểu sự khác biệt giữa các dòng tư tưởng); Tư duy đạo đức (hoàn thành trách nhiệm là một người lao động). Một số tác giả khác lại cho rằng, để tổ chức hiệu quả hoạt động dạy học theo hướng phát triển NL cần chú ý đến việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, tạo điều kiện tốt nhất cho người học thực hành, vận dụng kiến thức trong những tình huống đa dạng. Nếu trong quá trình dạy học, người dạy không tổ chức được các hoạt động học tập phù hợp cho người học thì không thể hình thành được ở họ những NL mong muốn - điều mà dạy học theo tiếp cận phát triển NL hướng tới (dẫn theo [21]).
- Nghiên cứu về dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực người học. Năm 2014, tác giả Trần Đình Sử đã nghiên cứu về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học văn. Xuất phát từ thực trạng dạy học môn Ngữ văn tác giả Trần Đình Sử đã tìm nguyên nhân và từ đó đưa ra giải pháp: Đổi mới về quan điểm dạy học, tiến trình dạy học, CNTT và đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá (viết và nói) (dẫn theo [20]). Năm 2015, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã có những công trình nghiên cứu: Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam và hướng phát triến sau 2015; Đổi mới căn bản toàn diện chương trình Ngữ văn; Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn.
Trong các công trình này, tác giả Đỗ Ngọc Thống đã nêu ra những quan niệm khoa học về Năng lực và đánh giá năng lực. Đối với môn Ngữ văn tác giả đã khái quát hai nhóm năng lực cơ bản của bộ môn, đó là: Năng lực tiếp nhận văn bản và Năng lực tạo lập văn bản. Đồng thời đã nêu ra những định hướng cơ bản về đánh giá năng lực môn Ngữ văn. Theo đó, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn theo ĐHNL cần có những phương thức cụ thể và cần chú trọng đến đánh giá các kĩ năng của học sinh.
Bên cạnh đó cần nhận thức rõ sự khác biệt giữa đánh giá NL với đánh giá nội dung. Tác giả Đỗ 9 Ngọc Thống cũng nêu rõ những mục tiêu chính và quan trọng của đánh giá chất lượng môn Ngữ văn theo ĐHNL. Có thể thấy, đây là những quan niệm, những đường hướng mang tính khái quát, vĩ mô của việc đổi mới đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở THCS. Bên cạnh đó cũng đã đưa ra được những giải pháp rất cụ thể để hoạt động đánh giá theo năng lực có hiệu quả thiết thực [33].
Ngoài ra, còn một số luận văn, luận án nghiên cứu vấn đề quản lý quá trình sư phạm, dạy học, quản lý hoạt động dạy học theo ĐHNL cho học sinh đã được bảo vệ, cụ thể như: Luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục “Quản lí hoạt động dạy học môn Ngữ văn của trưởng bộ môn ở một số Trung tâm giáo dục thường xuyên tình Hải Dương” của tác giả Trịnh Thị Kim Dung, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2010 [14]. Công trình đã đưa được các khái niệm chung về dạy học, quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn. Tác giả đã phân tích hạn chế và bất cập trong việc xây dựng kế hoạch, phát triển chương trình học; tổ chức, chỉ đạo cũng như công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Ngữ văn của tổ trưởng tổ chuyên môn.