Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Đánh giá mức độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các quốc gia, người ta căn cứ vào các chỉ số phát triển con người (Human Development Index-HDI), gồm ba chỉ số: sức khỏe (đo lường theo tuổi thọ trung bình); giáo dục (tỉ lệ người biết đọc, biết viết, người đến trường ở các cấp giáo dục); thu nhập bình quân đầu người (GDP) (Wikipedia).
Trong ba tiêu chí trên, giáo dục là chỉ số trung tâm, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển tổng thể xã hội. Chất lượng đào tạo quyết định chất lượng nguồn nhân lực, do đó, quản lí hoạt động đào tạo phải được nghiên cứu và thực hiện một cách khoa học mới tác động tích cực đến toàn bộ quá trình thực hiện. Quản lí nói chung hay quản lí hoạt động đào tạo nói riêng đều thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như: xác định mục tiêu, quyết định các việc cần làm và lên kế hoạch thực hiện; tổ chức sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên để thực hiện kế hoạch; phân tích công việc, phân công công việc phù hợp với năng lực của từng cá nhân và có biện pháp bổ sung nhân lực khi cần thiết; động viên, khuyến khích nhân viên, tạo động lực cho nhân viên làm việc hiệu quả hơn trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch; giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ này giúp nhà quản lí nhận thông tin phản hồi kịp thời và căn cứ vào đó, tiến hành các bước điều chỉnh cần thiết. Theo quan điểm của James Donnoelly và James Gibson (đại học Kentucky, Mỹ) John Ivancevich (đại học Houston, Mỹ), nguyên tắc quản lí là cần xác định nhu cầu người học có phù hợp với nhu cầu của đơn vị tuyển dụng; khắc phục những hạn chế về mục tiêu đào tạo, xem xét chương trình đào tạo diễn biến ra sao thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá (James, H.
Hai tác giả Derek Torrington và Laura Hall (Mỹ) nhận định cốt lõi vấn đề về quản lí nhân sự là thực hiện nhiệm vụ bảo đảm đủ số lượng và chất lượng nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển liên tục của đơn vị (Derek Torrington and Laura Hall, 1995). Như vậy, quản lí nguồn nhân lực là kết hợp thực hiện ba mục tiêu, một là cải 8 thiện hiệu suất công việc hiện tại; hai là, đào tạo nguồn nhân lực và ba là, phát triển nguồn nhân lực cho tương lai. Các tác giả trên chủ yếu quan tâm đến khâu đánh giá để chứng minh nhiệm vụ đào tạo là cần thiết với đơn vị. Từ đó, tìm ra cách thức thực hiện hoạt động đào tạo hiệu quả cho mục đích phát triển nguồn nhân lực phù hợp với quy mô hoạt động của đơn vị.
Theo Michael Armstrong, quản lí đào tạo là một quá trình xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và hiện thực hóa kế hoạch, các bước gồm: xác định nhu cầu đào tạo; xác định yêu cầu việc học tập; xây dựng kế hoạch chương trình đào tạo; xác định nơi thực hiện và nhân sự phụ trách công việc; thực hiện kế hoạch; đánh giá kết quả kế hoạch thực hiện (Michael Armstrong, 1997). Quan điểm này được đưa vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng. Tuy không có mô hình mẫu nhưng các tiêu chí đánh giá chất lượng được tác giả đề cập đến cũng đáp ứng một phần yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội. Drucker đề cập đến những vấn đề nhà quản lí phải đương đầu trong tương lai như: xây dựng chiến lược, tốc độ lan tuyền thông tin, lao động chất xám tự chịu trách nhiệm về chất lượng công việc, hình thức đổi mới và nhân sự tiên phong trong công tác đổi mới (Peter F.
Các nghiên cứu trên là cơ sở lí luận giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về công tác quản lí và tầm quan trọng của vấn đề này trong quản lí hoạt động giáo dục, đào tạo. Các nghiên cứu ở Việt Nam Trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục” (Trần Kiểm, 2012), tác giả cho rằng: quản lí giáo dục hay quản lí trường học (cơ sở giáo dục, đào tạo) chính là quản lí con người. Nhà quản lí phải kết hợp các phương pháp quản lí khoa học với các yếu tố nghệ thuật trong công tác quản lí, hướng đến việc cá nhân tự quản nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển của tổ chức. Việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng xu hướng phát triển toàn cầu là thách thức đối với chiến lược giáo dục quốc gia và chiến lược của cơ sở đào tạo, đòi hỏi việc xây dựng tiêu chí hoạch định chiến lược hoạt động đào tạo phải gắn liền với “chất lượng đào tạo” và “phát triển chất lượng đào tạo”.
9 Tác giả Phạm Thành Nghị (2000), với “Quản lí chất lượng giáo dục đại học” xác nhận chất lượng và kém chất lượng ảnh hưởng đến kết quả giáo dục, đào tạo. Theo tác giả, việc quản lí chất lượng giáo dục, đào tạo là thiết lập tính chịu trách nhiêm của cơ sở đào tạo với các bên liên quan, bao gồm mối quan hệ tam giác như sơ đồ sau đây: Toàn xã hội, Chính phủ, người đóng thuế Khách hàng: SV, người sử dụng LĐ Nhà trường, giáo chức Hình 1. Sơ đồ chịu trách nhiệm trong GDĐH (Frazer, 1994) (trích dẫn theo Phạm Thành Nghị, 2000, tr.29) Quản lí chất lượng là cách minh bạch hóa các việc cơ sở đào tạo thực hiện, cho phép các đơn vị bên ngoài đánh giá hiệu quả và kết quả đào tạo của đơn vị nhằm thể hiện tính chịu trách nhiệm với xã hội (Phạm Thành Nghị, 2000, tr. Tác giả Trần Khánh Đức (2014) với “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” đề cập giáo dục trong nền kinh tế thị trường với các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí giáo dục và phát triển giáo dục, gồm hệ thống quan điểm giáo dục; hệ thống giáo dục một số nước như: Hà Lan, Hoa Kỳ, Nhật, Hàn Quốc; các vấn đề giáo dục toàn cầu hay mô hình giáo dục nho giáo, mô hình giáo dục Pháp, mô hình giáo dục Liên xô cũ và các mô hình đổi mới từ năm 1986 đến nay.
Đặc biệt, Luận án tiến sĩ “Quản lí chất lượng chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao tại Đại học quốc gia Hà Nội theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng 10 thể” (Bùi Thị Lan Hương, 2013) đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí chất lượng chương trình đào tạo một cách tổng thể nhằm đào tạo đội ngũ có năng lực đáp ứng với thời đại công nghệ 4.0 và xu thế hội nhập toàn cầu. Luận án đề xuất một số giải pháp vận dụng nguyên lí quản lí chất lượng tổng thể vào quản lí chất lượng chương trình đào tạo hệ cử nhân chất lượng cao và đây là cơ sở vận dụng vào đề tài nghiên cứu này. Bên cạnh đó, Luận án “Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học theo tiếp cập CDIO” (Nguyễn Kiều Oanh, 2013) nhấn mạnh tầm quan trọng việc vận dụng mô hình quản lí CDIO và hiệu quả đạt được mục tiêu chất lượng đào tạo, đáp ứng thực tiễn. Những năm gần đây có khá nhiều tác giả nghiên cứu về lĩnh vực quản lí, có thể kể đến tác giả Nguyễn Kiên Trường và nhóm dịch giả (2004) với bản dịch “Phương pháp lãnh đạo và quản lí nhà trường hiệu quả”; Bùi Văn Nhơn (2008) với chủ đề “Quản lí và phát triển nguồn nhân lực xã hội”; “Đào tạo, bồi dưỡng nguồn và sử dụng nguồn nhân lực tài năng – Kinh nghiệm của thế giới” của Trần Văn Tùng (2005); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Vân (2011), “Quản lí hoạt động đào tạo ở Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay”; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tiến Đạt (2016), “Quản lí hoạt động bồi dưỡng cán bộ công chức ở các cơ sở đào tạo của Bộ Nội vụ trong giai đoạn hiện nay”; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Lan Hương (2015), “Quản lí chất lượng đào tạo tại các trường đại học tư thục ở Thành phố Hồ Chí Minh”; Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thùy Diễm (2015), “Đào tạo bồi dưỡng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế khu vực phía Nam”, Báo nhân dân (2018), “Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực”.
Các nghiên cứu tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau như phương thức quản lí đào tạo, quản lí đào tạo nguồn nhân lực, quản lí hướng tới quản lí chất lượng hay quản lí chất lượng tổng thể; các khía cạnh được đề cập không tách rời mà tương tác hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành hệ thống lí luận xuyên suốt, định hướng cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Hoạt động đào tạo Đào tạo là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kĩ năng kĩ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước” (Bùi Hiền, 2013, tr. Đào tạo là “làm cho trở thành người có năng lực theo tiêu chuẩn nhất định” (Quý Long và Kim Thư, 2009, tr.
Hoạt động đào tạo “là hoạt động truyền thụ kiến thức, huấn luyện kĩ năng, giáo dục thái độ nhằm giúp người học chiếm lĩnh được một năng lực nghề nghiệp hoặc môt năng lực liên quan đến những mặt khác của cuộc sống,” (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2011, tr. Như vậy, hoạt động đào tạo là một quá trình chuyển giao kiến thức có tính chuyên biệt để người học rèn luyện kĩ năng, lĩnh hội và hình thành năng lực nghề nghiệp, hoặc năng lực khác, từ đó, đáp ứng với nhu cầu xã hội và phát triển sự nghiệp. Quản lí hoạt động đào tạo Quản lí là “hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” (Bùi Hiền, 2013, tr. Quản lí “là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí đạt mục tiêu đề ra.” (Nguyễn Đức Lợi, 2008, tr.