Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về mô hình đào tạo giáo viên Nhóm tác giả Tạ Ngọc Tấn và cộng sự [88], Lâm Quang Thiệp và cộng sự [91], đã tổng quan và giới thiệu rất chi tiết về mô hình ĐTGV THPT và trung cấp chuyên nghiệp của một số quốc gia như: Hoa Kì; CHLB Đức; Vương quốc Anh; Australia; Nhật Bản; Philippines; Pháp và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Các tác giả đã đi sâu phân tích và giới thiệu có hệ thống về các mặt: hệ thống giáo dục của các nước; công tác đào tạo và mô hình ĐTGV; chính trị và quản trị trường học; tuyển dụng GV; chính sách phát triển GV; kiểm định chất lượng giáo dục… Đặc biệt, tiếp thu kinh nghiệm của các nước, nhóm nghiên cứu trong nước đã đúc kết được nhiều bài học cho Việt Nam về mô hình ĐTGV THPT và TCCN; vấn đề lương và các hình thức khuyến khích khác; bản chất của việc đào tạo; kiến nghị những giải pháp phát triển hệ thống chuẩn; đổi mới nội dung, CTĐT.
Nguyễn Thị Kim Dung (ĐHSP Hà Nội) đã tổng hợp các nghiên cứu của thế giới về đào tạo NVSP cho GV tương lai, như: Theo nghiên cứu của Jordan (2006) trên các đối tượng GV, HS và hiệu trưởng được lựa chọn ngẫu nhiên của các trường phổ thông ở Jordan về ba nội dung so sánh: sử dụng phương pháp dạy học phù hợp, đa dạng; sử dụng các phương pháp giáo dục và các phương pháp đánh giá HS đối với các loại hình GV: Giáo viên có bằng cử nhân sư phạm; Giáo viên có bằng cử nhân khoa học cơ bản; Giáo viên có bằng cử nhân khoa học cơ bản + chứng chỉ giáo dục. Theo kết quả nghiên cứu đó, nhóm đối tượng GV 1 và 3 đều vượt trội hơn nhóm đối tượng GV 2 về ba nội dung được phỏng vấn. Điều này cho thấy, vấn đề đào tạo NVSP cho giáo sinh tương lai là vô cùng quan trọng [32]. Ở Việt Nam, có thể xác định 2 mô hình sau đây đang tồn tại trong thực tiễn giáo dục [6], [94]: 1) Mô hình đào tạo giáo viên liên tục 4 năm trong các trường sư phạm Mô hình này đã tồn tại hơn 60 năm phát triển có những lợi thế cơ bản như sau: i) Là một môi trường sư phạm thuận lợi trong hình thành nhân cách chuyên gia giáo 11 dục; ii) Chương trình tương đối ổn định; iii) Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý có tính chuyên nghiệp cao; iv) Có kinh nghiệm quản lý - nhà trường có uy tín.
Ngoài ra còn ưu điểm: đầu vào có điểm chuẩn cao hơn (trong khoảng 10 năm gần đây); động cơ học của SV xác định nghề nghiệp ngay từ đầu. Tuy nhiên mô hình này cũng có những hạn chế sau đây: i) Chậm chuyển đổi chương trình cho thích ứng với thực tiễn; ii) Ít có sự sàng lọc trong quá trình đào tạo, đồng thời SV không có cơ hội chuyển ngành; iii) Cần sự đầu tư lớn cho hệ thống. 2) Mô hình tiếp nối. Mô hình này đang tồn tại dựa vào cấu trúc hai ĐH Quốc gia: học chương trình cơ bản hoặc tốt nghiệp kiến thức đại cương và nối tiếp ĐTGV.
Mô hình này có lợi thế: i) Tăng tính cạnh tranh, sự lựa chọn nghề nghiệp của SV; ii) Tuyển chọn SV giỏi, có năng lực nghiên cứu làm giảng viên có năng lực sâu về nghiên cứu cơ bản; iii) Đầu tư, quy mô vừa phải, có hiệu suất. Tuy nhiên mô hình này có hạn chế: i) Không có môi trường sư phạm, môi trường nghề nghiệp ở hai năm đầu; ii) Nguồn tuyển biến động, khó ổn định; iii) Có xu hướng SV giỏi không muốn học sư phạm. Các công trình nghiên cứu nêu trên, xét theo quan điểm thực tiễn, quan điểm giáo dục nghề nghiệp và kinh nghiệm, ưu thế thuộc về mô hình thứ nhất với vị trí vai trò các trường sư phạm đảm bảo tính chuyên nghiệp cao trong ĐTGV. Tuy nhiên, các công trình vẫn chưa đưa ra những dẫn chứng cụ thể về tính ưu việt của mô hình thứ nhất, cũng như mô hình ĐTGV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay.
Các công trình nghiên cứu về đào tạo giáo viên Trong nghiên cứu của mình về ĐTGV, Michel Develay đã bắt đầu từ lý luận về học đến lý luận về dạy để nghiên cứu về quá trình ĐTGV. Theo ông: “Đào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, định lý, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học lý luận của chúng là không thể được” [43, tr69]. Ngoài ra, trong tác phẩm này, ông còn đề cập đến nội dung, cách thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV. Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra yêu cầu đối với một GV cần có các phẩm chất [75]: + Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình dạy; + Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; 12 + Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê; + Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; + Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học.
Tùy thuộc vào nguyên tắc quản lý các CTĐT GV ở mỗi quốc gia, chuẩn đầu ra dành cho SV sư phạm cũng được quy định hoặc thống nhất trong toàn quốc hoặc khác nhau theo từng địa phương hoặc từng cơ sở đào tạo riêng lẻ. Trong đó Anh và Úc là hai quốc gia có được sự quản lý thống nhất cấp quốc gia về CTĐT GV. Theo đó, các nước này đều xây dựng một bộ tiêu chuẩn đầu ra dành cho SV sau khi tốt nghiệp hệ cử nhân sư phạm. Chuẩn này được gọi là Standard for Initial Teacher Education (Anh) hoặc National Graduate Teacher Standard (Úc).
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, chuẩn ĐTGV được các bang sử dụng từ đầu năm học 2005 - 2006, là cơ sở cho việc xây dựng CTĐT GV, bao gồm cả phần đào tạo thực tiễn và ĐTGV tập sự ở các bang [27]. Ở Việt Nam, Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục và ĐTGV cũng được Người xem trọng: vị trí, vai trò, nhiệm vụ của thầy, cô giáo và người làm công tác giáo dục. Về phương pháp giáo dục - đào tạo thầy, cô giáo cũng được Hồ Chí Minh yêu cầu việc đào tạo phải luôn luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn cách mạng Việt Nam, học phải đi đôi với hành, lý luận phải đi đôi với thực tế. Trong tác phẩm “Đổi mới ĐTGV trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam” của tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến đã khái quát lên toàn cảnh việc đổi mới ĐTGV ở Việt Nam: “So với nhiều nước đang phát triển, điểm mạnh nổi trội của Việt Nam là có chính sách GV nhất quán, trong đó việc xây dựng đội ngũ nhà giáo luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện các chiến lược phát triển giáo dục.
Bước vào giai đoạn mới, trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền GD Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ rõ phát triển đội ngũ GV là một khâu then chốt; Việc đổi mới ĐTGV là cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta đang tích cực chuẩn bị để triển khai chương trình GDPT mới sau năm 2015”. Cuốn sách này có mục đích xác lập cơ sở lý luận và đề xuất giải pháp để định hướng cho việc đổi mới ĐTGV ở nước ta, đáp ứng yêu cầu GDPT thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Ngoài ra, cuốn sách cũng làm rõ: 1. Hiện trạng công tác ĐTGV ở nước ta; 2.
Xu thế và các mô hình đổi mới ĐTGV trên thế giới; 3. Tác động kinh tế - xã hội đến việc định hình GDPT nước ta 13 trong 10 - 15 năm tới cùng các yêu cầu mới về nhà trường và năng lực của HS phổ thông; 4. Các yêu cầu đổi mới GV nước ta và mô hình mong muốn trong ĐTGV. Nhóm tác giả Vũ Quốc Chung và nhóm cộng sự [27] đã tổng quan và giới thiệu rất chi tiết về mô hình ĐTGV THPT và trung cấp chuyên nghiệp của một số quốc gia: Hoa Kì; CHLB Đức; Vương quốc Anh; Australia; Nhật Bản; Philippines; Pháp và CHND Trung Hoa.
Các tác giả đã đi sâu phân tích và giới thiệu có hệ thống về các mặt: hệ thống giáo dục của các nước; công tác đào tạo và mô hình ĐTGV; chính trị và quản trị trường học; tuyển dụng GV; chính sách phát triển GV; kiểm định chất lượng giáo dục… Đặc biệt, tiếp thu kinh nghiệm của các nước, nhóm tác giả cũng đúc kết được nhiều bài học cho Việt Nam về mô hình ĐTGV THPT và TCCN; vấn đề lương và các hình thức khuyến khích khác; bản chất của việc đào tạo; kiến nghị những giải pháp phát triển hệ thống chuẩn; đổi mới nội dung, CTĐT. Đề tài khoa học đặc biệt cấp ĐH Quốc gia (2003 - 2005), “Nghiên cứu xây dựng quy trình ĐTGV THPT chất lượng cao trong trường ĐH đa ngành, đa lĩnh vực” do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc chủ trì đã khái quát về các mô hình và quy trình ĐTGV trên thế giới và ở Việt Nam, phân tích cơ sở lý luận về GV chất lượng cao. Đồng thời đề tài còn xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc hình thành mô hình và quy trình ĐTGV THPT chất lượng cao trong ĐH đa ngành, đa lĩnh vực như ĐH quốc gia Hà Nội với 03 năm đầu của khóa học, SV được đào tạo kiến thức chuyên sâu tại các trường ĐH thành viên, năm thứ tư được đào tạo về NVSP tại khoa sư phạm.