mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục; cấu trúc đề tài bao gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực sƣ phạm của giảng viên trƣờng đại học Chƣơng 2: Thực trạng về quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực sƣ phạm của giảng viên trƣờng ĐHKH - ĐHTN Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực sƣ phạm của giảng viên trƣờng ĐHKH - ĐHTN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC SƢ PHẠM CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Năng lực sƣ phạm là một năng lực nghề nghiệp quan trọng của ngƣời giảng viên, giúp giảng viên có thể thực hiện có hiệu quả hoạt động GD & ĐT trong nhà trƣờng. Hiệu quả của năng lực sƣ phạm phụ thuộc lớn vào kĩ năng nghề nghiệp của họ. Vì vậy, việc bồi dƣỡng năng lực sƣ phạm của giảng viên đại học trong quá trình đào tạo đã đƣợc nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu.
Những nghiên cứu chủ yếu ở nước ngoài Nghiên cứu về năng lực con ngƣời trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể đƣợc chú ý vào những năm đầu của thế kỷ XIX, ví dụ F.Gantol với tác phẩm “Sự di truyền của tài năng”. Trải qua một thời kỳ dài, vấn đề phát triển năng lực của con ngƣời đã đƣợc nhiều nhà khoa học, nhiều ngành tập trung nghiên cứu. Ở Mỹ và một số nƣớc khác, việc nghiên cứu vấn đề này đƣợc dựa trên cơ sở của Tâm lí học hành vi và Tâm lí học chức năng. Theo đó năng lực sƣ phạm, mà chủ yếu là kĩ năng dạy học đƣợc hình thành trong quá trình rèn luyện (J.
Bigs và Tellfer (1987), K. Việc nghiên cứu vấn đề này cũng đƣợc chú trọng ở Liên Xô và các nƣớc Xã hội chủ nghĩa Đông Âu trƣớc đây, mà trọng tâm là cấu trúc nhân cách nói chung và năng lực sƣ phạm của ngƣời thầy giáo nói riêng, sự hình thành chúng trong quá trình đào tạo và sự hoàn thiện trong quá trình hành nghề. Cudomina với công trình “Hình thành các năng lực sư phạm”, đã xác định các năng lực sƣ phạm cần có của ngƣời giáo viên, việc phát hiện và bồi dƣỡng các năng khiếu sƣ phạm.Apđulinna trong “Bàn về kĩ năng sư phạm” đã phát triển vấn đề kĩ năng sƣ phạm trở thành một hệ thống lí luận tƣơng đối hoàn chỉnh. Tác giả phân biệt hai nhóm kĩ năng sƣ phạm cơ bản, đó là kĩ năng chung và kĩ năng chuyên biệt cho từng hoạt động.
Tác giả cũng chỉ ra đƣợc nội dung của từng kĩ năng sƣ phạm cụ thể [2]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Trong tác phẩm “Những phẩm chất tâm lí của người giáo viên”, Ph. Gô - nô - bôlin đã nêu ra những năng lực sƣ phạm mà ngƣời giáo viên cần phải có và cách thức rèn luyện đề hình thành, phát triển và hoàn thiện [17]. Trong công trình “Hình thành các kĩ năng, kĩ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học”, X.Kixegov và các cộng sự đã nêu ra hơn 100 kĩ năng, trong đó có 50 kĩ năng cơ bản và tối thiểu cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của ngƣời giáo viên.
Nghiên cứu cũng chỉ ra đƣợc con đƣờng và các giai đoạn của việc hình thành chúng. Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về năng lực của con ngƣời. Các công trình nghiên cứu chủ yếu trên góc độ lý thuyết của Tâm lý học phát triển, Tâm lý học đại cƣơng và có vận dụng vào hoạt động cụ thể nhƣ các kỹ năng, quy trình bồi dƣỡng giáo viên. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu nhƣ sau: Năm 1995, tác giả Nguyễn Hữu Dũng trong đề tài: “Hình thành kĩ năng sư phạm cho giáo sinh sư phạm” đã xem xét vai trò của kỹ năng sƣ phạm và việc hình thành trong quá trình đào tạo sinh viên sƣ phạm [12].
Năm 1996, tác giả đã giải quyết tiếp một số vấn đề lí luận về hệ thống kĩ năng cần có của ngƣời giáo viên trong điều kiện mới và vấn đề đổi mới quá trình đào tạo giáo viên để kịp thời đáp ứng nhu cầu giáo dục của nƣớc nhà trong thời kì mới của sự phát triển kinh tế - xã hội [13]. Một số tác giả nhƣ Dƣơng Quang Bích với công trình nghiên cứu về “Nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên khoa học xã hội - nhân văn trong quân đội giai đoạn hiện nay” [6], Nguyễn Xuân Thái với đề tài: “Tổ chức và quản lý công tác rèn luyện NVSP cho giáo sinh trường Trung học Sư phạm Tỉnh Thanh Hóa” (Hà Nội, 1999) [40] cũng đã đề cập đến năng lực sƣ phạm của giáo viên và giáo sinh sƣ phạm. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả nêu trên đều đƣợc chúng tôi tìm hiểu, kế thừa. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy những công trình đó, dù các tác giả đều đề cao việc hình thành năng lực sƣ phạm nói chung, kỹ năng dạy học nói riêng trong quá trình đào tạo và thu đƣợc những kết quả nhất định, song về phƣơng diện lí luận cũng nhƣ về thực tiễn vẫn còn những vấn đề cần phát triển, hoàn thiện.
Đặc biệt là chƣa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và chuyên sâu về vấn đề bồi dƣỡng NLSP cho giảng viên trƣờng ĐHKH - ĐHTN. Một số khái niệm công cụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Quản lý Quản lý là một hoạt động đặc biệt bao trùm lên các mặt của đời sống xã hội, là nhân tố không thể thiếu đƣợc trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của các nhà quản lý nhằm hình thành một môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt tới mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Theo Từ điển Đại Bách khoa toàn thƣ Liên Xô, 1977: Quản lý là chức năng của hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [44] Trong cuốn „„Quản lý nguồn nhân lực”, Paul Hersey và Kent Blanchard lại coi „„Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [37] Các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: „„Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (Người quản lý) đến khách thể quản lý (Người bị quản lý) - trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt coi: „„Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [33]. Tác giả Mai Hữu Khuê lại cho rằng: „„Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết với bộ máy quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa phối hợp các khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đi đến hiệu quả” [30].
Các định nghĩa trên tuy khác nhau, nhƣng có một số điểm chung trong nhận thức về quản lý nhƣ sau: - Quản lý là hoạt động lao động điều khiển các hoạt động khác nhau của nhóm hay tập thể. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ - Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phƣơng tiện. Quản lý có một cấu trúc và vận hành trong một môi trƣờng nhất định. Trong cấu trúc đó, ba thành tố: mục tiêu, chủ thể, khách thể quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên hoạt động của bộ máy.
Nhƣ vậy, về bản chất của hoạt động, quản lý là sự tác động có mục đích của ngƣời quản lý (Chủ thể quản lý) đến ngƣời bị quản lý (Khách thể quản lý) nhằm đạt mục đích chung. Bản chất đó có thể đƣợc thể hiện ở sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Mô hình về quản lý Chủ thể Khách thể quản lý quản lý Mục tiêu quản lý Nội dung Công cụ, quản lý phƣơng pháp quản lý Nhìn vào sơ đồ trên, ta thấy: - Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức. - Khách thể quản lý là những con ngƣời cụ thể và sự hình thành tự nhiên các mối quan hệ giữa những con ngƣời, nhóm ngƣời.
- Công cụ quản lý là phƣơng tiện tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhƣ: mệnh lệnh, quyết định, luật lệ, chính sách. - Phƣơng pháp quản lý: là cách thức tác động của chủ thể tới khách thể quản lý. - Nội dung quản lý: là một công việc, nhiệm vụ cần thực hiện. Mục tiêu của tổ chức đƣợc xác định theo nhiều cách khác nhau, có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể và khách thể quản lý.
Trên cơ sở tìm hiểu một số khái niệm về quản lý, chúng tôi cho rằng: „„Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện lãnh đạo và kiểm tra công việc của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ các thành viên thuộc hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục tiêu đã định”. Thông qua khái niệm, ta thấy bản chất quá trình quản lý đƣợc thể hiện dƣới sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Bản chất của quá trình quản lý Lập kế hoạch Tổ chức Kiểm tra Lãnh đạo Toàn bộ hoạt động quản lý đều đƣợc thực hiện thông qua các chức năng quản lý. Nếu không xác định đƣợc các chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành đƣợc hệ thống quản lý.
* Chức năng lập kế hoạch: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chƣơng trình hành động và quyết định cách thức, phƣơng tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý để đạt đƣợc mục tiêu. Kế hoạch hóa giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy đƣợc hoạt động tƣơng tác giữa các bộ phận.