phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Năng lực và năng lực dạy học 1. Năng lực Hiện nay, thuật ngữ “năng lực” đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Theo Từ điển tiếng Việt: “Năng lực” là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện đƣợc tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con ngƣời luôn gắn liền với hoạt động của chính họ. Nội dung, tính chất và mức độ của hoạt động đƣợc quy định bởi nội dung và tính chất của đối tƣợng của nó. Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đối tƣợng hoạt động mà đòi hỏi chủ thể những yêu cầu xác định. Tức là, mỗi một hoạt động khác nhau đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm lý nhất định phù hợp với nó.
Nhƣ vậy, dƣới góc độ tâm lý học, năng lực đƣợc hiểu là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của mỗi cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy. Theo Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của mỗi cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trƣng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” (Nguyễn Quang Uẩn, 2001). Trần Khánh Đức phát biểu: “Năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp có hiệu quả mọi tiềm năng của con ngƣời (tri thức, kỹ năng, thái độ, niềm tin để thực hiện một công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp” (Trần Khánh Đức, 2014, trang 124). Tác giả Phan Văn Nhân cho rằng: năng lực trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, là khả năng thực hiện đƣợc 13 các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó.
Năng lực bao gồm các kỹ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối với một ngƣời để thực hiện hoạt động có kết quả ở một nhiệm vụ, công việc trong một nghề nhất định. Trên cơ sở các khái niệm khoa học và quan điểm của nhiều tác giả, có thể hiểu: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả hoạt động công việc nào đó của một cá nhân. Năng lực dạy học Theo quan niệm chung hiện nay dạy học đƣợc hiểu trên hai khía cạnh. Khía cạnh thứ nhất: Tổng thể hai hoạt động cơ bản của quá trình giáo dục là hoạt động dạy và hoạt động học.
Theo nghĩa này thì dạy là “truyền đạt lại tri thức hoặc kỹ năng một cách có phƣơng pháp” hay “làm cho biết điều phải trái, biết cách tu dƣỡng và đối xử” (Trung tâm từ điển học, 2008, trang 314) còn học đƣợc định nghĩa là “thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do ngƣời khác truyền lại” hoặc “đọc đi đọc lại, nghiền ngẫm cho nhớ” (Trung tâm từ điển học, 2008, trang 563). Với nghĩa này ta có thể khái quát dạy học là hoạt động truyền thụ và lĩnh hội tri thức và kỹ năng một cách có phƣơng pháp giữa ngƣời dạy và ngƣời học. Khía cạnh thứ hai: Dùng để chỉ hoạt động giảng dạy của ngƣời dạy, với nghĩa này thì dạy học là “Dạy văn hóa theo những chƣơng trình nhất định” (Trung tâm từ điển học, 2008, trang 314). Với nghĩa này ta có thể khái quát dạy học là hoạt động truyền thụ tri thức và kỹ năng một cách có phƣơng pháp của ngƣời dạy đối với ngƣời học.
Để phù hợp với đối tƣợng nghiên cứu, trong đề tài tác giả hiểu dạy học theo khía cạnh thứ hai. Nhƣ vậy, dạy học là hoạt động truyền thụ tri thức và kỹ năng một cách có phương pháp của người dạy đối với người học. Từ cách tiếp cận trên, chúng ta có thể quan niệm: Năng lực dạy học là khả năng thực hiện có hiệu quả hoạt động truyền thụ tri thức và kỹ năng của các môn học một cách có phương pháp của người dạy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học. Bồi dƣỡng năng lực dạy học 1.
Bồi dưỡng Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì: “Bồi dƣỡng là làm cho tăng thêm năng lực, trình độ hoặc phẩm chất” (Trung tâm từ điển học, 2008, trang 107); Còn theo Từ điển Giáo dục học thì “bồi dƣỡng (nghĩa hẹp) là trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể”; Hay bồi dƣỡng là quá trình hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định hƣớng mục đích đã chọn (Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, 2001). Nhƣ vậy, gắn với đối tƣợng nghiên cứu của đề tài thì mục đích của bồi dƣỡng là nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất và năng lực chuyên môn để ngƣời lao động nói chung, giáo viên nói riêng có cơ hội củng cố, mở rộng, và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ đã có, cập nhật, bổ sung thêm kiến thức, năng lực, phẩm chất từ đó nâng cao chất lƣợng hiệu quả công việc của họ đang làm. Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên Từ cách tiếp cận trên, chúng ta có thể quan niệm: Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên là quá trình tổ chức cho giáo viên cập nhật, bổ sung các kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm cần thiết để nâng cao trình độ về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ dạy học theo yêu cầu của chương trình giáo dục các cấp. Về bản chất bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên là quá trình tự học, tự bồi dƣỡng hoặc có sự tổ chức, định hƣớng, giúp đỡ về mặt chuyên môn nào đó từ các chủ thể giáo dục với các hình thức khác nhau nhằm làm cho giáo viên đáp ứng đƣợc tốt hơn các nhiệm vụ và yêu cầu ngày càng cao trong hoạt động nghề nghiệp sƣ phạm.
Hoạt động bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên có đặc trƣng riêng song không tách rời với các nội dung bồi dƣỡng giáo viên khác nhƣ: Bồi dƣỡng chuẩn hóa và nâng chuẩn; bồi dƣỡng thƣờng xuyên theo chu kỳ do Bộ Giáo dục và Đào 15 tạo quy định; tự bồi dƣỡng của cá nhân. Tuy nhiên, các hoạt động này hƣớng tới thực hiện nhiều mục tiêu khác nhau tùy theo đối tƣợng, nội dung, phạm vi, điều kiện, địa bàn bên cạnh những quy định chung của cả nƣớc. Phƣơng thức bồi dƣỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên gắn liền với quan niệm học tập, đào tạo thƣờng xuyên, liên tục, suốt đời nên phƣơng thức bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên cũng đa dạng, phong phú, liên tục. Các phƣơng thức bồi dƣỡng phổ biến nhƣ: Bồi dƣỡng tập trung, định kỳ; bồi dƣỡng tại chỗ; bồi dƣỡng từ xa; tự bồi dƣỡng có định hƣớng.
Phƣơng pháp bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên, đây chính là cách thức tiến hành hoạt động bồi dƣỡng. Đối với hoạt động bồi dƣỡng bang lực dạy học cho giao viên thƣờng sử dụng các phƣơng pháp theo theo hƣớng lựa chọn và sử dụng các phƣơng pháp tích cực, huy động sự tham gia của các giáo viên vào các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo, tƣơng tác, hợp tác và chia sẻ (báo cáo viên thuyết trình, sắm vai thực hành trên lớp); coi trọng tự học, tự bồi dƣỡng kết hợp với trao đổi, thảo luận; tiếp nhận sự phản hồi từ đồng nghiệp, phụ huynh học sinh; phát huy vai trò chủ thể và tính cá thể hóa của mỗi giáo viên. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Thuật ngữ “quản lý” thƣờng đƣợc hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc nhìn khác nhau cũng nhƣ cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu.
Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dƣới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Theo nghĩa chung nhất, “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” (Trung tâm từ điển học, 2008, trang 991). Các khái niệm này mới chỉ ra sự cần thiết phải có quản lý khi có sự phối hợp hoạt động của nhiều ngƣời và mục đích của quản lý, chƣa chỉ ra phƣơng thức tiến hành quản lý. Điều này có nghĩa là tổ chức có trƣớc quản lý.
Dƣới góc độ quản lý và tổ chức học Peter Ferdinand Drucker cho rằng quản lý 16 phải có trƣớc tổ chức khi đƣa ra định nghĩa sau Quản lý là hoạt động đặc biệt để biến một đám đông không có tổ chức thành một nhóm hoạt động có hiệu quả và mục tiêu. Dƣới góc độ quản trị, Fayol cho rằng “quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” (Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý, 2008, trang 59). Ngƣợc với các quan điểm trên, Fayol xem trọng cách thức tiến hành hoạt động quản lý vì có lẽ ông tin tƣởng, nếu có cách thức quản lý tốt chắc chắn sẽ giúp tổ chức đạt đƣợc mục tiêu mong muốn. Dƣới góc độ chính trị, “quản lý đƣợc xem là phƣơng thức tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu chung của một nhóm ngƣời, một tổ chức, một cơ quan, hay nói rộng hơn là một nhà nƣớc” (Đặng Bảo Quốc, 1999, trang 176).
Nhƣ vậy, dựa trên các quan điểm trên ta có thể khái quát: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, thông qua tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm phát huy một cách hiệu quả các tiềm năng của cá nhân và tổ chức để đạt được mục tiêu đã xác định.