Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên Tin học ở các trƣờng THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới GD. Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên Tin học ở các trƣờng THPT Tỉnh Ninh Bình đáp ứng yêu cầu đổi mới GD. Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên Tin học ở các trƣờng THPT Tỉnh Ninh Bình đáp ứng yêu cầu đổi mới GD. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TIN HỌC Ở CÁC TRƢỜNG THPT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Vào giữa thế kỷ XX chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời (1946) đặt nền móng cho ngành Tin học phát triển. Nhìn vào lịch sử phát triển của máy tính đến nay ta thấy rằng chƣa có một ngành khoa học nào lại phát triển một cách thần kỳ, thần tốc nhƣ thế. Chỉ trong vòng hơn 80 năm phát triển Tin học đã có những bƣớc phát triển vƣợt trội đã đƣa nhân loại sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên công nghệ thông tin.
Cùng song hành với sự phát triển thần tốc của máy tính đòi hỏi phải có những con ngƣời hiểu biết về nó, sử dụng nó và phát triển, nâng cấp, cải thiện nó liên tục, đó chính là nhiệm vụ, vai trò của giáo dục cần phải đào tạo ra những con ngƣời, những thế hệ đáp ứng yêu cầu đó. Chính vì vậy đầu những năm 60 của thế kỷ XX đã có những nghiên cứu và thử nghiệm về việc dạy Tin học và kỹ thuật tính, chủ yếu là qua môn Toán. Nhƣng nhìn chung việc giảng dạy Tin học của các nƣớc còn rất nặng về lý thuyết, học sinh rất ít đƣợc thực hành trên máy vi tính. Chỉ trong vòng 10 năm sau, Tin học và kỹ thuật tính chuyển sang một giai đoạn mới có sự biến đổi về chất rất lớn.
Máy vi tính đƣợc sử dụng rộng rãi hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, sản xuất, kính doanh, nghiên cứu khoa học hay giải trí…vv. Do sự tác động của tin học đã ảnh hƣởng sâu sắc, to lớn đến sự phát triển về kính tế văn hóa và chính trị của các nƣớc một cách mạnh mẽ, đã làm thay đổi về tƣ duy, cách thức làm việc của con ngƣời, chính vì thế Tin học đã chính thức đƣợc đƣa vào trƣờng học giảng dạy là một một khoa học cơ bản. Ở Pháp đã thí điểm trên 58 trƣờng cao trung đƣợc đƣa tin học vào giảng dạy vào đầu những năm 70.000 máy vi tính” từ năm 1979, đến năm 1983, kế hoạch “100.000 giáo viên”, đến năm 1985 đã là kế hoạch “Tin học cho mọi ngƣời”,…[28;169] 8 Ở một số nƣớc thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình dƣơng Tin học đƣợc phát triển mạnh mẽ từ những năm 1979-1980 trong các hệ thống giáo dục. Hội nghị chuyên đề Châu Á lần thứ ba về kỹ thuật giáo dục ở Tokyo vào tháng 9 năm 1984, đã tạo cơ hội cho các nƣớc Châu Á – Thái Bình Dƣơng trao đổi những kinh nghiệm về việc đƣa Tin học vào trong giáo dục.
[28;174] Ngày nay vấn đề dạy học Tin học, ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới quan tâm đào tạo và ứng dụng vào trong tất cả các mặt đời sống của xã hội cũng nhƣ khoa học, đã đƣa nhân loại bƣớc sang một cuộc cách mạng khoa học lần thứ V (cuộc cách mạng khoa học Công nghệ Thông tin) và Tin học đã trở thành một vấn đề toàn cầu. Ở Việt Nam Đảng và Nhà nƣớc sớm nhận rõ vai trò to lớn của Tin học trong sự phát triển của đất nƣớc nên ngay từ những năm học 1990-1991, cùng với việc thay sách giáo khoa trong cải cách giáo dục, một số kiến thức Tin học đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình môn Toán lớp 10 Trung học phổ thông trong một chƣơng là “Khái niệm về Tin học và thuật toán” với thời lƣợng 15 tiết. Khi chƣơng trình thí điểm phân ban từ năm học 1993-1994 đƣợc tiến hành một số trƣờng Trung học phổ thông chuyên ban bắt đầu đƣa Tin học vào giảng dạy cả ở 3 khối 10, 11 và 12 với thời lƣợng tƣơng ứng là 2; 1 và 1 tiết/ tuần. Ngoài ra Bộ giáo dục và Đào tạo đã tổ chức soạn thảo và ban hành chƣơng trình Tin học cho khối các trƣờng chuyên với 16 môđun kiến thức và cho phép các địa phƣơng tự quyết định về nội dung dạy học cho địa phƣơng mình.
Nhƣng đến năm 1998 việc giảng dạy Tin học ở các trƣờng trung học phổ thông bị gián đoạn và chỉ còn tồn tại tiếp tục ở một số trƣờng thí điểm phân ban và tồn tại dƣới dạng dạy nghề phổ thông Tin học. Bắt đầu từ năm 2003-2004, chƣơng trình thí điểm trung học phân ban cho hai ban là khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn đƣợc triển khai thì Tin học lại đƣợc giảng dạy là một môn học chính khóa. Từ năm 2006-2007, chƣơng trình tin học mới đƣợc đƣa vào giảng dạy tại tất các các trƣờng trung học phổ thông trên toàn quốc là một môn học chính thức bắt buộc với cả ba khối 10, 11 và 12 với thời lƣợng tƣơng ứng là 2, 1,5 và 1,5 tiết /tuần. 9 Việc giảng dạy Tin học ở các trƣờng trung học phổ thông đã góp phần rất lớn trong sự phát triển của đất nƣớc.
Góp phần tạo ra những nguồn nhân lực chất lƣợng cao cho xã hội. Chính những đóng góp to lớn của Tin học cho xã hội, việc giảng dạy Tin học trong các trƣờng phổ thông ngày càng đƣợc quan tâm nhiều hơn và chất lƣợng đội ngũ giáo viên Tin học ngày càng đƣợc nâng cao. Nghiên cứu quản lí hoạt động bồi dƣỡng giáo viên dạy học Tin học nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học của môn này đã có 1 số đề tài nghiên cứu nhƣ: - Tác giả Trần Hƣởng với đề tài “Một số giải pháp quản lí hoạt động giảng dạy Tin học ở trường Cao đẳng sƣ phạm Quảng Nam”, Luận văn thạc sĩ, năm 2006; - Tác giả Phạm Đức Nghĩa với đề tài “Quản lí dạy học môn Tin học ở các trường THPT huyện Kim Sơn – tỉnh Ninh Bình”, Luận văn thực sĩ, năm 2013; - Tác giả Nguyễn Anh Tuân với đề tài “Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên trường trung học phổ thông Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ”, Luận văn thạc sĩ, năm 2017”; - Tác giả Vũ Văn Phƣớc với đề tài “Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên các trường trung học phổ thông huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”, Luận văn thạc sĩ, năm 2017. Hầu hết các luận văn tập trung nghiên cứu quản lí hoạt động giảng dạy môn tin học hoặc quản lí dạy học môn Tin học chứ chƣa quan tâm đến việc quản lí hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên Tin học.
Một số đề tài nghiên cứu hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên THPT của một trƣờng hay một huyện và chƣa đi sâu nghiên cứu hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn trong một môn học cụ thể đặc biệt là môn Tin học. Chính vì vậy nghiên cứu quản lí hoạt động bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên Tin học ở các trƣờng THPT trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông càng trở nên cấp thiết. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lí Quản lí là một phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.
Do vậy khi đƣa ra các định nghĩa về quản lí, các nhà nghiên cứu thƣờng gắn với các loại hình cụ thể hay hoạt động nghiên cứu của mình. 10 Quản lí là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu đƣợc trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lí càng lớn và nội dung quản lí càng phức tạp. Một số quan điểm của các học giả trên thế giới về quản lí nhƣ sau: Theo Henry Fayol (1841-1925) ông đã nghiên cứu kĩ bản chất và tính chất công việc của ngƣời quản lí và đi đến kết luận rằng “Quản lí đó là dự tính (dự toán và lập kế hoạch), tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.W Taylor “Quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lí đúng tức là con người đã nhận thức được qui luật, vận động theo qui luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lí nào đó”.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”.Mác đã lột tả đƣợc bản chất quản lí là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Các nhà khoa học ở Việt Nam cũng có những quan điểm riêng về quản lí nhƣ sau: Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản 11 lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [15;12] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là tác động có mục tiêu, có kế hoạch của chủ thể. Quản lí đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lí) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”.