CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG MA TÚY TẠI CÁC TRƯỜNG THCS 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Nghiện ma túy được xem là một tệ nạn mang tính chất toàn cầu. Vì thế, phòng chống ma tuý là một nhiệm vụ cấp thiết được đặt ra cho mọi châu lục, mọi quốc gia.
Rất nhiều hoạt động được tiến hành nhằm chống lại các tệ nạn liên quan đến ma tuý không chỉ trong lãnh thổ quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế. Bên cạnh đó, rất nhiều nghiên cứu cũng như các chính sách pháp luật đã được công bố nhằm kiểm soát tệ nạn này. Cụ thể như sau: Mỹ là nước tiêu thụ ma túy lớn nhất thế giới, vấn đề ma túy nghiêm trọng hơn bất cứ quốc gia nào. Luật chống ma túy Liên bang sớm nhất nước Mỹ là “Pháp lệnh Halition” năm 1914.
Năm 1930 chính phủ liên bang thành lập Cục chống ma túy trong Bộ Tài chính, tiến hành quản lý chất ma túy, heroine, cocaine đang lạm dụng lúc đó. Năm 1937, Chính phủ liên bang thông qua “Pháp lệnh thu thuế đại ma” hạn chế mở rộng đại ma. Năm 1986, Quốc hội Mỹ thông qua “Pháp lệnh chống lạm dụng ma túy”, lần đầu tiên đưa ra về mặt pháp luật một cách toàn diện đối với vấn đề lạm dụng ma túy và vấn đề buôn lậu ma túy. Năm 1986, nhà trường ở nước Mỹ phải là nhà trường không có ma túy.
Các nước Trung và Nam Mỹ đều có luật chuyên về chống ma túy và áp dụng luật hình sự để trừng trị các loại hoạt động tội phạm vi phạm pháp lệnh cấm ma túy. Những năm 1970 đến nay, luật cấm ma túy là một loại luật pháp chủ yếu được coi trọng ở các nước, phần lớn các nước đều có cơ quan chấp pháp chống ma túy (Trương Văn Phong, 2000). Nhìn chung, các nước Trung và Nam Mỹ rất coi trọng công tác giáo dục phòng chống ma túy. Từ năm 1990, Bộ Giáo dục Pêru bắt đầu triển khai hoạt động chống lạm dụng ma túy trong học sinh, yêu cầu phụ huynh học sinh và giáo viên tích cực phối hợp thực hiện công tác này.
Braxin tiến hành tuyên truyền phòng chống ma túy, thông qua nhà trường yêu cầu học sinh hiểu rõ tác hại của ma túy và tránh xa ma túy Ở một số nước vùng 9 Nam Mỹ hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng đều có chương trình tuyên truyền phòng chống ma túy (Nguyễn Hồng Phan, 2002). Năm 1987, Australia thực hiện luật phòng chống ma túy, cho phép tịch thu tài sản những kẻ buôn bán ma túy, yêu cầu các cơ quan tài chính phải báo cáo tình hình giao dịch tiền tệ của tội phạm ma túy. Đầu những năm 1970, New Zealand thành lập Cục tình báo ma túy để thu thập và phân tích tình hình tội phạm ma túy nhằm thực hiện công tác phòng chống ma túy. Đến đầu những năm 1990, thành lập tổ công tác cấp Bộ chuyên đánh vào hoạt động buôn bán ma túy và điều hòa chống ma túy của các ngành có liên quan Chính phủ (Trương Văn Phong, 2000).
Ai Cập là nước rất tích cực và nghiêm minh trong công tác phòng chống tội phạm ma túy. Luật pháp về ma túy có quy định, những kẻ chế biến chất ma túy phi pháp với mục đích buôn bán phải chịu tội tử hình và phạt tiền tùy tính chất, những kẻ buôn lậu ma túy sẽ bị nghiêm trị, nhẹ thì vào tù, nặng thì xử tử hình (Trương Văn Phong, 2000). Trong các nước Châu Phi, Ai Cập là nước có nét đặc sắc riêng về công tác giáo dục phòng chống ma túy. Chính phủ đã phát động phong trào đài truyền hình tham gia phòng chống ma túy nhằm vào đặc điểm yêu thích xem truyền hình của thanh thiếu nhi.
Các nước Myanmar, Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, Philippine đều có luật Phòng chống ma túy và cơ quan chuyên trách Phòng chống ma túy. Nhìn chung luật pháp các nước đều có hình phạt nặng đối với những kẻ buôn bán hoặc tàng trữ ma túy phi pháp. Trong pháp lệnh chống ma túy đều có án tử hình. Malaysia, Singapore triển khai công tác giáo dục Phòng chống ma túy thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thành lập đội thiếu niên tuyên truyền Phòng chống ma túy trong và ngoài nhà trường; tập huấn cán bộ chuyên môn giảng dạy, biên soạn tài liệu về vấn đề ma túy và phụ trách công tác Phòng chống ma túy trong nhà trường; tăng cường lồng ghép các nội dung về ma túy và tác hại của ma túy trong các môn học có liên quan để nâng cao ý thức Phòng chống ma túy trong học sinh.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, thuốc phiện đã thâm nhập vào nước ta từ giữa thế kỷ XVII dưới triều Vua Minh Mạng, Vua Tự Đức. Ngay từ thời điểm đó, một số đạo luật đầu tiên về cấm trồng, hút và buôn thuốc phiện đã được ban hành. Vào năm Cảnh Trị thứ ba (1665) Nhà nước Phong kiến Việt Nam đã ban hành đạo luật đầu tiên về “Cấm trồng cây thuốc phiện”. Đạo luật này nêu rõ: “Con trai, con gái dùng thuốc phiện để thỏa lòng dâm dật, trộm cướp dùng nó để nhòm ngó nhà người ta.
Trong thì kinh thành, ngoài thì thôn xóm, vì nó mà có khi hỏa hoạn, khánh kiệt tài sản. Vì nó mà thân thể tàn tạ, người chẳng ra người”. Đạo luật này còn quy định: “Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện. Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải hủy đi”.
Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) có quy định thêm những hình phạt cụ thể đối với tội phạm ma túy: gieo trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện. Năm Tự Đức thứ ba (1840), quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm ma túy nghiêm trọng và chú trọng biện pháp điều trị cho người nghiện hút thuốc phiện. Đặc biệt là vấn đề khen thưởng hậu hỉ cho những người có công phát hiện hoặc tố giác đúng tội phạm ma túy. Trong thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp (1858-1954), công tác phòng chống ma túy không được chú trọng.
Các cấp chính quyền bấy giờ không hề quan tâm đến việc phòng chống thuốc phiện, tình trạng gieo trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện ở nước ta lại phát triển. Chính vì vậy, tệ nạn nghiện hút thuốc phiện làm cho nhiều gia đình tan nát, nhiều người rơi vào hoàn cảnh túng quẩn, sức khoẻ bị hủy hoại, trí tuệ cạn kiệt. Sau thành công của Cách mạng tháng Tám (1945), mặc dù chính quyền cách mạng còn non trẻ song vấn đề đấu tranh với tệ nạn thuốc phiện đã được Chính phủ rất quan tâm: Chính phủ đã cấm việc trồng trọt, buôn bán và sử dụng thuốc phiện ngoài danh mục y tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị rõ ràng trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước: “Cuối cùng tôi đề nghị cấm hút 11 thuốc phiện”.
Nghị định số 150/TTg ngày 12/3/1952 của Chính phủ ấn định chế độ tạm thời về thuốc phiện; Ngày 22/12/1952, Chính phủ lại ban hành Nghị định mới số 225/TTg sửa đổi lại Nghị định 150/TTg. Nhìn chung, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh chống thuốc phiện nói chung (Văn phòng thường trực phòng, chống ma túy, 2002). Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (1975) Đảng và Nhà nước ta tiếp tục chủ trương bài trừ nạn trồng trọt, chế biến, sử dụng các chất ma túy. Cuộc đấu tranh chống nạn ma túy đã đạt được nhiều kết quả từ năm 1975- 1984.
Nhưng từ giữa thập kỷ 80, do việc buông lỏng quản lý của Nhà nước và gia đình nên tệ nạn ma túy có cơ hội phát triển. Vì thế, để kịp thời ngăn chặn tệ nạn này ngày 08/4/1991, Chính phủ ra Nghị quyết số 99/CT về việc vận động nhân dân không trồng cây anh túc (Trương Văn Phong, 2000). Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản để chỉ đạo công tác phòng chống ma túy, cụ thể như: Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 01/3/1994 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: “Phòng chống, khắc phục có hiệu quả các tệ nạn xã hội, trước hết là nạn mại dâm, nghiện ma túy, là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Đảng và Nhà nước ta phải kiên quyết lãnh đạo thực hiện để có bước tiến bộ rõ rệt ngay từ năm 1994”. Chỉ thị 06-CT/TW ngày 30/11/1996 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma túy đã yêu cầu: “Các cấp ủy Đảng phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng chống và kiểm soát ma túy, phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyên nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng sử dụng ma túy trong nhân dân.” Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng đã nêu: “Phòng chống đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy.
Thực hiện cơ chế, giải pháp đồng bộ về tuyên truyền, giáo dục, chữa trị, đào tạo nghề, tạo việc làm. Xử lý nghiêm theo pháp luật những hành động gây tệ nạn xã hội”. Quốc hội ban hành Luật số 04/1997/QH9 “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự”, trong đó đã quy định 13 tội phạm về ma túy. Tháng 12 10/1999 Quốc hội đã ban hành Bộ luật hình sự thay thế Luật sửa đổi và bổ sung Bộ luật hình sự quy định các tội phạm về ma túy thành một chương riêng gồm 10 tội và tại kỳ họp lần thứ 8 Quốc hội khóa X, Luật phòng chống ma túy được thông qua ngày 09/12/2000 gồm 08 chương, 56 điều.
Bên cạnh đó, rất nhiều tác giả cũng đã quan tâm thực hiện các đề tài nghiên cứu về công tác giáo dục phòng chống ma túy, đặc biệt là công tác phòng chống ma túy trong nhà trường. Có thể điểm qua một vài những nghiên cứu nổi bật dưới đây: Tác giả Dương Thị Kim Oanh đã thực hiện đề tài “Tìm hiểu thực trạng nhận thức về ma túy và nguyên nhân dẫn tới tệ nạn nghiện ma túy của học sinh trung học phổ thông” năm 1998. Tác giả đã xác định được thực trạng nhận thức của học sinh THPT về vấn đề ma túy và chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn nghiện ma túy trong học sinh trường THPT qua kết quả nghiên cứu của đề tài (Dương Kim Oanh, 1998). Với nội dung nghiên cứu của đề tài “Một số giải pháp quản lý của Hiệu trưởng ngăn chặn tệ nạn ma túy xâm nhập vào các trường học trung học phổ thông ở Tây Ninh.