Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng thích ứng với cuộc sống cho học sinh dân tộc ở các trƣờng Phổ thông dân tộc nội trú theo hƣớng phối hợp nhà trƣờng, gia đình và xã hội. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng thích ứng với cuộc sống cho học sinh dân tộc ở các trƣờng Phổ thông dân tộc nội trú THCS&THPT tỉnh Sơn La theo hƣớng phối hợp nhà trƣờng, gia đình và xã hội. Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng thích ứng với cuộc sống cho học sinh dân tộc ở các trƣờng Phổ thông dân tộc nội trú THCS&THPT tỉnh Sơn La theo hƣớng phối hợp nhà trƣờng, gia đình và xã hội. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI CUỘC SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC Ở CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ THEO HƢỚNG PHỐI HỢP NHÀ TRƢỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Hiện nay trƣớc những biến động đã và đang xảy ra trên toàn cầu trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lƣờng đã mở ra những góc nhìn mới về giáo dục - đó chính là khả năng thích ứng, linh hoạt, thay đổi và thích nghi với mọi hoàn cảnh trong biến chuyển của xã hội. Nghiên cứu về khả năng thích ứng của HS có vai trò vô cùng quan trọng. Đến nay đã có một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề, trong phạm vi đề tài đề cập cụ thể nhƣ sau: Ngƣời đầu tiên khởi xƣớng tâm lí học thích ứng là Spencer H (1988), nhà tâm lí học ngƣời Anh với tác phẩm “Những nguyên lý tâm lí học” (1895), qua phân tích quá trình thích ứng dựa trên chủ nghĩa thực chứng của A.Comte và học thuyết tiến hóa giống loài của C.
Tác giả nghiên cứu quy luật của sự thích ứng tâm lí và cho rằng đó là sự chọn lọc tự nhiên. Tác giả cho rằng: “Cuộc sống là những thích ứng liên tục của các mối quan hệ bên trong với mối quan hệ bên ngoài”. Hạn chế của Spencer cho rằng các khái niệm về tiến hóa sinh vật, các quy luật, cơ chế của sự thích nghi của sinh vật về nguyên tắc hoàn toàn đúng với con ngƣời. Tác giả đã không thấy đƣợc mặt xã hội trong hoạt động, trong quá trình thích ứng của con ngƣời khi đƣa ra luận điểm: “Khi chuyển từ động vật lên ngƣời, các quá trình thích nghi loài và cá thể chỉ phức tạp thêm về mặt số lƣợng” Do đó tác giả đã đánh đồng sự thích ứng của con ngƣời với sinh vật.Watson, về nguyên tắc, các quy luật và cơ chế thích ứng ở ngƣời giống động vật, chỉ khác là môi trƣờng sống của con ngƣời có thêm một số yếu tố mới nhƣ ngôn ngữ và các quy tắc xã hội.
Sự thích ứng ở ngƣời có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhƣng không có sự khác biệt về chất so với động vật. Do đó, khi nghiên cứu sự thích ứng của con ngƣời vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của 8 tiến hóa sinh học: thích nghi với môi trƣờng và sống còn, liên kết và phân hóa các chức năng của chúng, kinh nghiệm loài và cá thể… sự thích ứng của con ngƣời chỉ phức tạp hơn của động vật về mặt số lƣợng (Dẫn theo Đặng Thị Lan, 2009). Quan điểm thích ứng dƣới góc độ tâm lí, xã hội tác giả Piaget J-Barbel, Inhelder (2002) cho rằng quá trình thích ứng tinh thần cũng tƣơng tự nhƣ thích ứng sinh học, cho nên ông dùng những thuật ngữ sinh học để mô tả cơ chế thích ứng tinh thần nhƣng với nghĩa rộng, đó là đồng hóa và điều ứng. Trong đó đồng hoá trí tuệ - nhận thức là quá trình não tiếp nhận thông tin từ bên ngoài, xử lý thông tin và biến chúng thành cái có nghĩa cho bản thân trong quá trình thích ứng với môi trƣờng.
Điều ứng là quá trình thích nghi của chủ thể với những đòi hỏi đa dạng của môi trƣờng, bằng cách tái lập lại những đặc điểm của khách thể vào cái đã có, qua đó biến đổi sơ đồ đã có, tạo ra sơ đồ mới. Sự cân bằng là sự bù trừ lẫn nhau giữa hai quá trình đồng hóa và điều ứng. để tạo lập đƣợc sự thích nghi và phát triển của cơ thể thì cần phải thiết lập đƣợc sự cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng với nhiều mức độ khác nhau là cân bằng sinh học và cân bằng tâm lý. Nhƣ vậy, theo Piaget J., thích ứng là quá trình kép gồm đồng hóa và điều ứng, trong đó cơ cấu nhận thức của cá nhân đƣợc biến đổi cả về chất và phát triển phong phú hơn để cá nhân tiếp thu những kinh nghiệm vốn ban đầu không phù hợp với cơ cấu nhận thức.
Quá trình này, về bản chất, tƣơng tự nhƣ quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trƣờng.Golomstooc (1979) khi nghiên cứu về “Sự lựa chọn nghề nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh”, tác giả đã không sử dụng thuật ngữ “thích ứng” mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp” để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con ngƣời với nghề nghiệp. Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến mặt tình cảm của quá trình thích hợp nghề nghiệp và coi đó nhƣ là một thuộc tính của nhân cách. Tác giả cho rằng sự thích ứng nhƣ là một quá trình lĩnh hội, thâm nhập vào các điều kiện mới. Đồng thời cũng nêu lên lí thuyết về sự thích ứng nghề nghiệp phù hợp với những tài liệu thực nghiệm của tâm lí học hiện đại.
Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ mới đề cập tới vấn đề thích hợp nghề nghiệp nói chung chứ chƣa đi sâu vào một nghề cụ thể. Nhƣ vậy, các tác giả khi nghiên cứu về thích ứng đã đồng nhất thích ứng với thích nghi mà chƣa thấy bản chất xã hội của thích ứng con ngƣời. Theo tác giả Andreeva D.A (1979) nhấn mạnh sự khác nhau giữa thích ứng 9 và xã hội hóa. Thích ứng phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của con ngƣời với điều kiện hoạt động mới, là sự thâm nhập của con ngƣời vào những điều kiện đó một cách không gƣợng ép.
Xã hội hóa là sự tác động qua lại của xã hội và cá nhân. Nhƣ vậy, thích ứng nhấn mạnh vai trò chủ thể của cá nhân với môi trƣờng. Tác giả Pêtơrốpxky A. rất quan tâm đến sự thích ứng xã hội.
Tác giả cho rằng: sự thích ứng xã hội là quá trình thích nghi tích cực của cá nhân hoặc tập thể (lớp, nhóm) với các điều kiện vật chất, các tiêu chuẩn và giá trị đƣợc xác định của môi trƣờng xã hội. Trong đó cá nhân, tập thể đó phải nắm đƣợc các tiêu chuẩn và giá trị của môi trƣờng trong quá trình xã hội hóa, cũng nhƣ trong quá trình thay đổi và cải tạo môi trƣờng cho phù hợp với điều kiện và mục đích mới của hoạt động (Dẫn theo Dƣơng Thị Nga, 2012). Kỹ năng sống là một vấn đề đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ XX, đặc biệt là thời gian gần đây. Sở dĩ vấn đề này đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều vì KNS đƣợc xác định là nguyên nhân giữ vai trò quan trọng sự thành công hay thất bại của cuộc đời mỗi ngƣời.
Trên thế giới: Ở Phần lan, M.Vôlanen quan tâm vấn đề thích ứng với nghề nghiệp và tâm thế xã hội đối với việc làm của thanh niên. Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niên tồn tại một thời kỳ chuyển tiếp có thể kéo dài từ 5 đến 7 năm, đƣợc đặc trƣng bởi hàng loạt các sự kiện nhƣ; Thất nghiệp, những công việc tạm thời, thậm chí cả sự thay đổi nghề. Tác giả xem đây là những giai đoạn thích ứng nghề của thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào giai đoạn này có diễn ra sự thích ứng nghề hay không. Ở một hình thái khác, Holland đã nghiên cứu sự phối hợp của các hình thái, các kiểu nhân cách với những môi trƣờng nghề nghiệp tƣơng ứng.
Đây là cơ sở cho công tác hƣớng nghiệp. theo ông sự phụ thuộc vào tính cách với môi trƣờng nghề 10 tƣơng ứng sẽ hạn chế rất nhiều những khó khăn mà con ngƣời gặp phải trong công việc, nói khác đi sự phù hợp này sẽ đẩy nhanh quá trình thích ứng nghề. Ở Liên Xô trƣớc đây và nƣớc Nga hiện nay, thích ứng xã hội, thích ứng văn hóa, thích ứng học tập, thích ứng nghề là những vấn đề đƣợc nhiều nhà tâm lý quan tâm nghiên cứu.Aemoleava đã nghiên cứu đặc điểm sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp trƣờng sƣ phạm. Tác giả cho rằng, giáo dục chính là sự giúp đỡ các chuyên gia trẻ thích ứng với nghề nghiệp.
Đồng thời đƣa ra khái niệm “thích ứng” các chỉ số đặc trƣng của thích ứng nghề “4 chỉ số khách quan và 3 chỉ số chủ quan” và sau cùng đƣa ra các thời điểm của sự thích ứng.Andreeva trong cuốn “Thanh niên và giáo dục” tác giả đã đi sâu phân tích khái niệm “Thích ứng” từ đó vạch rõ sự khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm “ Thích nghi” và “Thích ứng”. Điểm đáng chú ý là tác giả đã vận dụng quan điểm của tâm lý học hoạt động vào nghiên cứu vấn đề thích ứng. Từ đây, vấn đề thích ứng luôn đƣợc gắn với hoạt động có đối tƣợng của chủ thể. Hai quá trình này diễn ra đồng thời, trong đó sự thích ứng là tiền đề cho hoạt động có hiệu quả của nhân cách với các vai trò xã hội khác nhau.
Điều này cũng đƣợc O.Kariagieva bàn kỹ hơn. Hai tác giả này cho rằng, trong “Xã hội hóa” nhân cách trƣớc hết là đối tƣợng của các tác động xã hội còn quá trình “Thích ứng” nhân cách là chủ thể của quá trình đó. Quá trình “xã hội hóa” diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời con ngƣời và không tùy thuộc vào ý thức chủ quan của cá nhân, nó tác động đến mọi mặt trong đời sống tâm lý của cá nhân. Còn quá trình “Thích ứng” chỉ diễn ra khi con ngƣời gặp những hoàn cảnh mới.
tuy nhiên, trong thực tế chúng ta không nên tách rời hai quá trình này mà phải nhận thức đúng đắn về sự đan xen giữa chúng trong hoạt động của con ngƣời với môi trƣờng xung quanh để phát triển nhân cách của mình.