phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về việc QL hoạt động GD GTS, KNS cho trẻ tại trường MN Chƣơng 2: Thực trạng QL hoạt động GD GTS, KNS cho trẻ tại trường MN B Xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội Chƣơng 3: Biện pháp QL hoạt động GD GTS, KNS cho trẻ tại trường MN B Xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG, KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TẠI TRƢỜNG MẦM NON 1. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho trẻ tại trƣờng mầm non 1. Nghiên cứu ngoài nước Chương trình giáo dục các GTS là một chương trình GD toàn diện, do Hội giáo dục quốc tế, một hiệp hội phi lợi nhuận soạn thảo từ đề án vì một thế giới tốt đẹp hơn.
Chương trình được UNESCO ủng hộ và được Tổ chức Hành tinh, Tổ chức Brahma Kumaris bảo trợ với sự cố vấn của nhóm chuyên gia giáo dục UNICEF (NewYork). Chương trình GD được triển khai từ năm 1995 nhằm kêu gọi sự chia sẻ các giá trị cho một thế giới tốt đẹp hơn. Chương trình này tập trung vào 12 giá trị mang tính phổ quát của con người, bao gồm: hòa bình, tôn trọng, yêu thương, khoan dung, trung thực, khiêm tốn, hợp tác, hạnh phúc, trách nhiệm, giản dị, tự do, đoàn kết. Chương trình có một kim chỉ nam dẫn đường là cuốn sách Hướng dẫn các GTS.
Bắt đầu từ sự kiện 20 nhà giáo dục tiêu biểu trên khắp thế giới đã tập hợp tại trụ sở của UNICEF ở thành phố NewYork vào tháng 8 năm 1996 cùng nhau thảo luận để hình thành nên chương trình giáo dục dựa trên nền tảng của cuốn sách này. Chương trình đã được đưa vào thử nghiệm từ tháng 2 năm 1997 và kể từ đó đã phát triển rộng khắp. Đến tháng 8 năm 2008, chương trình đã được phổ biến trên 8.000 địa điểm thuộc 80 quốc gia trên thế giới. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “KNS” đã xuất hiện trong một số chương trình GD của UNICEF.
Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kĩ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng XH. Dự án do UNESCO 7 z tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên. Theo UNICEF, GD dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ và hành vi.
Ngắn gọn nhất đó là khả năng chuyển đổi kiến thức (phải làm gì) và thái độ (ta đang nghĩ gì, cảm xúc như thế nào, hay tin tưởng vào giá trị nào) thành hành động (làm gì và làm như thế nào). Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam vấn đề GD GTS, KNS cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó Khoa học GD có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục GTS, KNS cho HS, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nước nhà. Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về KNS và đề xuất yêu cầu tiếp cận KNS trong GD và GD KNS ở nhà trường phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GD KNS cho người học từ trẻ MN đến người lớn thông qua GD chính quy và GD thường xuyên ở Việt Nam. Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GD KNS trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu của Chương trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lược và chương trình GD với UNESCO tại Hà Nội).
Nội dung GD KNS cũng được các nhà trường thực sự quan tâm từ khi có chỉ thị 40/2008 CT-BGD&ĐT phát động các nhà trường thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong đó nội dung thứ ba và thứ tư của phong trào chính là tổ chức GD KNS cho trẻ: Mục đích rèn luyện cho trẻ kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động XH; GD cho trẻ thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, ý thức chung sống thân thiện, giải quyết hợp lý các tình huống mâu 8 z thuẫn, xung đột; có thái độ lên án và kiên quyết bài trừ mọi hành vi bạo lực. Như vậy, GD KNS cho trẻ không còn là vấn đề mới mẻ trong các nhà trường mà là một nhiệm vụ quan trọng được các nhà trường xây dựng trong kế hoạch từng năm học, nhưng chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến GD GTS cho trẻ, chưa GD đầy đủ phẩm chất nhân cách, mới chỉ chú ý đến GD hành vi, rèn luyện biểu hiện bên ngoài, do đó trẻ chưa hiểu bản chất của các KNS cần thực hiện, dẫn đến kết quả GD chưa cao, số trẻ có hành vi lệch chuẩn trong các nhà trường ngày càng ra tăng trong thời gian gần đây, gây sự lo lắng bức xúc trong dư luận, sự trăn trở của ngành GD. Vì thế, khoa học G D ngày nay đang hướng vào nghiên cứu GD GTS gắn liền với KNS, nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tiễn GD trẻ. Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa - Phan Thảo Hương, Hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho trẻ mầm non, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, đã trang bị cho trẻ MN đặc biệt là trẻ mẫu giáo hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của XH, của thời đại.
Những kết quả nghiên cứu trên đã được ứng dụng và thể hiện vào việc xây dựng, thực hiện chương trình GD trẻ MN triển khai từ năm 2010 trên phạm vi cả nước. GD GTS luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phương tiện để tiếp nhận và thể hiện GTS. Đây là những tiền đề đưa hoạt động GD GTS, KNS cho trẻ MN vào các nhà trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng GD căn bản toàn diện về phẩm chất và năng lực cho trẻ MN, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, XH dân chủ, công bằng, văn minh.[16] Hiện nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước nghiên cứu đề tài GD GTS và KNS, nhưng chủ yếu các đề tài phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề GD GTS, hoặc KNS, chưa giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một cách hệ thống, về biện pháp QL, nội dung, hình thức 9 z tổ chức, phương pháp GD GTS, KNS cho trẻ ở một trường MN cụ thể nói riêng. Một số đề tài đã nghiên cứu tương đối đầy đủ các nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp QL hoạt động GD GTS hoặc KNS ở các cơ sở GD khác nhau.
Chưa có đề tài nghiên cứu QL hoạt động GD GTS kết hợp với GD KNS trong trường MN huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Là một CBQL trường MN của địa phương, với những lý do như trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho trẻ tại trường mầm non B xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, TP Hà Nội ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý trường học 1.
Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi hoạt động của XH đều cần tới QL. QL vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống XH cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Hoạt động QL là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung.
Chính vì thế QL được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau: Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép xem xét cáchoạt động QL như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định. Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong QL, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên 10 z hiểu con người”.
Với học thuyết này giúp con người QL ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng định nghĩa QL một cách kinh điển nhất là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hiện nay hoạt động QL được định nghĩa rõ hơn: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Cũng như mọi hoạt động khác của XH loài người, GD cũng được QL trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động GD có tổ chức mới hình thành.