Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Ở Mỹ, từ những năm 1980, tất cả sinh viên trong và ngoài nước Mỹ đều có thể đăng ký chương trình giáo dục “ Thanh thiếu niên vươn xa hơn” [dẫn theo tài liệu TS Trần Anh Tuấn] [44]. Mục tiêu của cương trình nhằm giúp các thanh thiếu niên tăng cường các hành vi tích cực để dễ dàng đạt được các mục tiêu sống, hỗ trợ đạt được các kỹ năng cần thiết để phát triển và có cuộc sống hạnh phúc, khỏe mạnh, tạo mục tiêu cuộc sống thông qua các hoạt động đóng góp tích cực cho cộng đồng.
Hình thức đó được đưa vào giảng dạy 1 hay 2 lần/tuần và mỗi sinh viên không phải học chương trình đó quá 20 giờ/năm. Ở Châu Á, tiếp cận giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) muộn hơn, vào cuối những năm 1980, thậm chí sang những năm 1990. Song ở các nước Nam Á và Đông Nam Á hiện nay lại có những hoạt động GDKNS mạnh nổi bật nhất với nhiều hướng tiếp cận không hoàn toàn giống nhau [dẫn theo Trần Anh Tuấn] [44]. Trong cuốn sách“Chương trình giảng dạy kĩ năng sống”(Life Skill Education and Curriculum, 2006) tác giả Gracious Thomas nhấn mạnh vai trò của giáo viên nhằm giáo dục kĩ năng giữ an toàn cho trẻ dựa vào hệ thống giá trị cho công tác phòng, chống nhiễm HIV/AIDS.
Ngoài việc phát triển một kế hoạch khả thi của hành động, tác giả cũng đã phát triển một chương trình có thể được điều chỉnh bởi hệ thống giáo dục trong nước [39]. Tác giả Diane Till Man trong cuốn “Những giá trị sống cho tuổi trẻ” (Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh)- 2009 “Giáo dục các giá trị sống để có kỹ năng sống ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công 6 dân. Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà giáo viên và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, kỹ năng sống” [13]. Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra nguyên tắc cơ bản để định hướng giáo dục kỹ năng sống trong thực tiễn: “Tất cả thế hệ trẻ và người lớn có quyền hưởng lợi từ một nền giáo dục chứa đựng các hợp phần học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người và học để khẳng định mình.
Giáo dục hướng vào yêu cầu bồi dưỡng năng khiếu tiềm năng và phát triển cá tính người học cần quan tâm kết hợp kỹ năng thực hành và các khả năng tâm lí xã hội, đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác dụng của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân”. [49] Diễn đàn Thế giới về giáo dục cho mọi người (tại Dakar, thủ đô Senegan năm 2000) đã thông qua Kế hoạch hành động Giáo dục cho mọi người - gọi tắt là Kế hoạch Dakar, bao gồm 6 mục tiêu. Trong đó, Mục tiêu 3 nêu rõ: Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp [30]. Hội nghị Thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em, họp ngày 20 - 30/03/1990 tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc.
Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hoà hợp và hợp tác” [34]. Nhận định trên muốn nhấn mạnh đến nhiệm vụ học tập, môi trường học tập dành cho trẻ em cần phải được quan tâm đúng cách.
Học sinh đến trường không chỉ học để có tri thức mà cần phải biết cách học để có sức khoẻ, có kỹ năng nghề nghiệp, có những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân văn đúng đắn vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội, vừa đậm đà bản sắc dân tộc lại vừa 7 mang tính phổ quát toàn cầu,. tức là mỗi học sinh luôn phải học, tự học những kỹ năng nhất định trong môi trường thích hợp để tồn tại và phát triển. Các nghiên cứu ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kỹ năng sống” [04] khẳng định rằng về yêu cầu cụ thể đổi mới chương trình nội dung và phương pháp. Trong đó: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực”.
Tác giả cũng khái quát rằng: Do nhận thức, thiếu nguồn nhân lực và kinh nghiệm nên việc triển khai GDKNS một cách có ý thức, có hệ thống và hiệu quả ở Việt Nam còn hạn chế. Đối tượng được tiếp cận chương trình GDKNS còn hạn hẹp. Trong lĩnh vực giáo dục chính quy(Bậc phổ thông) việc GDKNS cho người học còn mờ nhạt. Tác giả Nguyễn Dục Quang trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” [35] cho rằng: “Cách thức giáo dục kỹ năng sống được hiểu bao gồm những phương pháp tiếp cận, các phương pháp dạy học tích cực và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cần quan tâm đến vai trò của người học”.
Bắt đầu từ năm 2008 xuất hiện Mô hình “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm khắc phục tính thụ động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội. Một trong những nội dung rất được chú ý là đưa GDKNS vào phương pháp dạy học mới phù hợp với từng lứa tuổi giúp các em tự tin trong học tập, tổ chức các hoạt động tập thể như các hoạt động do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức khuyến khích các em tham gia chủ động, tự giác từ đó rèn kỹ năng ứng xử hợp lí với các tình huống trong cuộc sống và sinh hoạt. [8] Tác giả Phạm Thị Nga [25] với luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục đã thực hiện đề tài luận án: “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo 8 dục”, tại Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN. Kết quả nghiên cứu của luận án đã xác định tầm quan trọng của hoạt động giáo dục và quản lí hoạt động giáo dục GTS&KNS trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.
Làm rõ mối quan hệ biện chứng của 2 khái niệm GTS và KNS mà nhà quản lí phải quan tâm trong quản lí hoạt động này. Xác định vai trò nòng cốt của nhà trường trong tổ chức, quản lí hoạt động giáo dục GTS&KNS và trong việc lôi cuốn CMHS và các tổ chức xã hội vào hoạt động này. Đề xuất 6 biện pháp bao quát hết các chức năng quản lí, kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, xuyên suốt mọi hoạt động trong trường (giờ học, NGLL, vui chơi, giải trí, sử dụng các hình thức, phương pháp giáo dục… ), đồng thời huy động các lực lượng khác cùng tham gia như các đồng chủ thể. Tác giả Phạm Thị Nga [25] cũng đã công bố bài báo khoa học về vấn đề “Những khó khăn trong quản lý giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống ở các trường” (Tạp chí Quản lý giáo dục số 56, 2014).
Trên thực tế giáo dục phổ thông hiện nay, các hoạt động GDKNS tuy đã được triển khai rộng khắp, song vẫn còn chung chung, chưa xác định rõ ràng, đầy đủ một hệ thống KNS cần trang bị cho từng độ tuổi, càng chưa có những hướng dẫn mục tiêu, nội dung cụ thể cho GDKNS theo từng khu vực vùng miền, theo từng nhóm đối tượng đặc thù dựa trên nhu cầu phát triển khác nhau. Như vậy, để có thể GDKNS thực sự chất lượng, có hiệu quả cho học sinh THPT không thể không nghiên cứu khảo sát định lượng mức độ hình thành KNS của học sinh, đánh giá đúng nhu cầu phát triển KNS theo từng nhóm đối tượng đặc thù, từ đó xác định rõ danh mục GDKNS cụ thể cho học sinh theo các nhóm đối tượng đặc biệt thông qua các hoạt động Đoàn trong nhà trường. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục (HĐGD) là tất cả các hoạt động nhằm định hướng, hình thành và phát triển nhân cách cho người học theo một mục tiêu giáo dục nhất định, diễn ra trong nhà trường và ngoài trường [01] 9 Những HĐGD đó có thể là hoạt động dạy học các môn trong giờ lên lớp, có thể là hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Hoạt động giáo dục kỹ năng sống là một loại HĐGD trong các HĐGD. Kỹ năng sống và Giáo dục kỹ năng sống 1. Kỹ năng sống Nếu hiểu kỹ năng là năng lực (tổng hòa cả kiến thức, thái độ và hành vi) theo nghĩa rộng, thì kỹ năng sống (KNS) là khả năng áp dụng những hiểu biết và kỹ năng để thực hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác hoặc trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó. - Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [dẫn theo TS Trần Anh Tuấn] [44].
Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. - Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục [49], đó là: + Học để biết (Learning to know) gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả,.; + Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,.